Chánh tri kiến và tư duy về tên gọi “Phật Thích-ca” hay “Phật Cồ-đàm”

Thích-ca Mâu-ni Phật là một cách gọi khác của Đức Phật Cồ-đàm và quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Với tinh thần luôn truy tìm gốc gác những gì mình nghe, chánh tri kiến để gọi đúng nhất tên Đức Phật, chúng tay thấy trong tất cả các kinh điển xưa tiếng Pali gốc đều dùng tên Cồ-đàm (Gautama) để gọi Đức Phật. Cách gọi đó theo đúng cách gọi của thời bấy giờ và còn phổ biến ở nhiều quốc gia ngày nay là gọi một người bằng họ của người đó, và họ của Đức Phật là họ Cồ-đàm.

Tiêu biểu nhất là trong Kinh Pháp Cú, Phẩm Tạp Lục, đều sử dụng chỉ một cách gọi Cồ-đàm dành cho Đức Phật:

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Phật-đà.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Đạt-ma.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Tăng-già.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm sắc thân.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường vui bất sát.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường ưa thiền quán.

Tên gọi Phật Thích-ca chỉ phổ biến ở hai quốc gia là Trung Quốc và Việt Nam. Cách gọi này chỉ mới xuất hiện gần 10 thế kỉ sau thời Đức Phật, khi Phật Giáo truyền qua Trung Quốc. Thích-ca (Sakya) được cho là tên bộ tộc của Ngài Cồ-đàm, nhưng gọi một người bằng tên bộ tộc cũng chưa thật đúng, và gọi Thích-ca cũng dễ nhầm lẫn với trường phái Sakya ở Tây Tạng. Còn từ Mâu-ni có nghĩa là “người trí giả trầm lặng” mà mọi người tôn kính dành gọi Đức Phật, người đã giác ngộ và luôn khiêm cung xem chúng sanh là bạn.

Học Phật điều tiên quyết là chánh tri kiến và chánh tư duy, chúng ta hãy cũng thực hành chánh ngữ bằng cách gọi và tri ân Đức Phật bằng tên đúng nhất: Cồ-đàm Mâu-ni Phật.

Chúng con đồng thành kính tri ân Ngài, Bổn Sư Cồ Đàm Mâu-ni Phật.

Với đọc giả muốn tìm hiểu sâu về vấn đề này, có thể tham khảo phần tên gọi Đức Phật trong cuốn sách “Phạm Võng Tinh Giải” do tác giả TOTHA. Quý đọc giả có thể đọc thêm tạito Sách Phật Học Tinh Hoa: Phạm Võng Tinh Giải Tập 1 – TOTHA

Sau đây là trích một phần trong quyển sách:

*Lược sử thời gian truy cứu để cùng hiểu đúng (Trạch giác) về phái Thích-ca/Thích-già/Tát-ca giáo phân phái trong phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng cùng sự biến tướng bành trướng:

Trước tiên, chúng ta sẽ cùng tìm xem sự xuất hiện của bộ tộc शाक्य [phiên âm La-tinh là Sākya, Hán Việt , đọc là Thích-già/Thích-ca]. Tham khảo đối chiếu lại bản đồ Ấn Độ cổ thời điểm năm 1750 TCN và năm 600 TCN để hình dung. Ta xem:

Picture1.png

Picture12.png

Theo tư liệu khảo cổ lịch sử thế giới cho biết bộ tộc SakyaThích-ca, Thích già thuộc bộ lạc Aryan xuất hiện TK XX TCN, sống du mục rải rác khắp vùng thảo nguyên Âu-Á. Khoảng TK XVII bộ lạc Aryan từ Đông Afghanistan cùng tôn giáo Hindu Kush thờ thần mặt trời đổ bộ dần sang: Pakistan/Bắc Ấn Độ/Nepal. Đến khoảng TCN TK VI TCN bộ tộc SakyaThích-ca thuộc bộ lạc Aryan phân bố định cư ở: 1. Gandhara(Càn-đà-la) nay thuộc Đông Afghanistan và một phần của Tây Bắc Pakistan. Đây là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại  ; 2. Sakastan ; 3. Matsya(Ma-thâu-la) phía nam thủ đô Delhi  của Ấn Độ ngày nay. Đây cũng là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại ; và bộ tộc SakyaThích-ca rải rác ở 4. Lumbidi(Lâm-tỳ-ni) phía cực Bắc Ấn Đô gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), nơi sinh ra Đức Phật Cồ-đàm Sĩ-đạt-ta. Nhắc lại, thế danh (tên họ) của Đức Phật chữ Ấn Độ là शिद्धत्थTênङोतमHọ(phiên âm La-tinh SiddhārthaTên GotamaHọ, phiên âm Hán Việt là: Sĩ-đạt-ta(Tên) Cồ-đàm(Họ), sinh quán लुम्बिनी[phiên âm La-tinh Lumbidi(Lâm-tỳ-ni)] phía cực Bắc Ấn Đô gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), thời điểm ra đời (đản sinh) khoảng TK VI/V/IV? TCN các kinh sách để lại không rõ ràng, phả hệ thuộc bộ tộc शाक्य(phiên âm La-tinh là Sākya, phiên âm Hán Việt là Thích-già/Thích-ca). Giáo pháp giác ngộ (phật pháp/phật học) do Ngài Cồ-đàm chỉ dạy được thịnh hành ở Ấn Độ đến gần giữa TK V thì bị suy hoá dần (biến tướng thành tôn giáo tín thần, đến TK XII thì bị diệt vong hoàn toàn). Lúc này, thời điểm khoảng giữa TK V vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma – vị Tổ cuối cùng của Đạo Phật chính thống (nguyên thuỷ) tại Ấn Độ – phải thân hành sang Trung Quốc để truyền bá chánh pháp – xem như Sơ Tổ  Đạo Phật chánh tông Trung Quốc – giúp lưu truyền chánh pháp được 5 đời TổHuệ Khả -> Tăng Xán -> Đạo Tín -> Hoàng Nhẫn -> Huệ Năng. Đạo Phật chánh tông (nguyên thuỷ) thịnh hành ở Trung Quốc chưa đầy 2 thế kỷ thì cũng bị biến tướng lai tạp cùng thần giáo/tiên giáo/huyễn giáo (triết học) phát triển rộng khắp bởi sức ảnh hưởng của “Lão phật gia Võ Tắc Thiên Hoàng Đế” hoằng hoá khai thị… Và khoảng giữa TK VI – thời nhà Đường – có vị sư chánh trực là Huyền Trang (玄奘) nhận thấy quá nhiều dị biệt lẫn mâu thuẫn trong kinh sách phật giáo, nên ông đã đích thân sang Ấn Độ để truy tìm chánh kinh mang về Trung Quốc biên dịch lại…đến cuối TK XI cũng dần bị lại tạp biến tướng hoàn toàn thành tôn giáo…

Như vậy, hãy cùng nhau trạch giác chi đồng chánh tri kiến và tư duy đúng đắn (Chánh tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa giữa Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni PhậtNam mô Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni Phật thì đâu gọi là Chánh Ngữ và Chánh Niệm về vị Đạo Sư tôn kính của chúng ta? Có vì danh xưng dòng họ Thích…(đúng nghĩa là bộ tộc Thích-ca/Thích-già) phổ biến ờ Tây Tạng mà vội cả tin đây là phật giáo chính tông của Thầy Sĩ-đạt-taTênCồ-đàmHọ hay không?!… Ví như dân tộc Kinh có nhiều thầy tên họ: Trần…, Nguyễn…, Đinh…thì có chắc rằng người, nhóm người, mọi người dân tộc Kinh đều là đệ tử của thầy Nguyễn Trãi hay cháu con của Nguyễn Trãi? Đệ tử của Nguyễn Trãi, cháu con của Nguyễn Trãi có chắc rằng hiểu đúng, làm đúng lời Nguyễn Trãi dạy hay không?…  Nhớ lại thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, bộ tộc Thích-ca đã gây tạo hiềm khích với vua Tỳ-lưu-ly -> thù hằn sâu nặng, khiến vua mang quân sang tiêu diệt sạch dòng tộc Thích-ca, lúc ấy đệ tử Phật là Mục-kiền-liên dùng thần thông can thiệp nhưng bất thành, Đức Phật bảo rằng thần thông không thắng được nhân quả… Và đồng cùng nhau đối chiếu xem lại 28 vị Tổ Ấn Độ cho đến 5 vị Tổ chánh tông tại Trung Quốc do Tổ Đạt-ma chọn truyền y bát, có thấy ai ghép tiền danh họ Thích…?

Một truyền tích về họ Thích…(theo một số chi phái của phật giáo Trung Quốc) cho rằng vào khoảng năm 220 – 300 có một nhà sư hiệu là Trúc Đạo Thanh hay còn gọi là Đạo Hinh, đồng thời vị sư này còn có thêm tên gọi là Thích Đạo Thanh… Số khác cho rằng do Thích Đạo An (năm 312 – 385) thiết định ra…. Chúng ta hãy cùng nhau chánh tri kiến và tư duy về lịch sử phật giáo Trung Quốc tại các thời điểm: *TK III:  – Đạo Sư Khương Tăng Hội (Giao chỉ) -> Đông Ngô (Tôn Quyền); – Đạo Sư Đàm-ma-ca-la -> Bắc   Ngụy (Tào Tháo) ; – Đạo Sư Châu Tử Hoàng -> Tây Thục (Lưu Bị) là những danh sư nỗi tiếng (trong đó Đạo Sư Khương Tăng Hội được tôn là đệ nhất danh sư), những vị ấy không hề mang họ Thích… -> Năm 310 Đạo Sư Phật-độ-trừng từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Đạo An (312-385), Huệ Viễn (344-416) -> Năm 384 Đạo Sư Cưu-ma­-la-thập từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Tăng Triệu (384–414) và Đạo Sinh (360–434). Chỉ mỗi sư Đạo An phác thêm họ Thích có thể hiểu theo nghĩa là ưa thích (gần như nghĩa ái), Đạo An (an bình trên đường đạo), Thích Đạo An tư nghĩa tự niệm tâm Ưa thích thành đạt an bình trên đường đạo hay Thích Đạo Thanh tư nghĩa tự niệm tâm Ưa thích thanh tịnh trên đường đạo…ái giác thay cho ái dục đời thường, tựa như giác nghĩa dụng giải Dục thần túc giác chi (khát khao mong muốn giác ngộ) thuộc chi phần Tứ thần túc/Tứ như ý túc trong 37 phẩm trợ đạo (Tam thập thất Bồ-đề phẩm), nhằm khéo léo cải thiện/hoàn thiện (thiện xảo) tự nhắc nhở tự tâm mình dần xoay thay chuyển/hoá giải dục mê chi trần cấu… Cũng vậy, ở Kinh Pháp Cú 300/301 thiện xảo thay chuyển/hoá giải niềm vuiHỉ/ưa thíchÁi thế tục thành niềm vui bất sát/ưa thích thiền quánTư duy an lặng nghĩa là vậy… Nghĩa là, Dụng pháp Chuyển pháp Thiện xảo Giải giới Pháp...

      Tóm lại, điều mà chúng ta – những người tu học giác ngộ chân chính, thật sự được gọi là đệ tử của Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm tôn kính – cần phải hiểu đúng và tư duy đúng (Chánh Tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa (Chánh Ngữ) “Thích-ca” cùng sự đồng hoá Tát-ca phái/Thích-già giáo của Mật giáo Tây Tạng vào phật giáo… Đó là sự thật.

Trích: “Phạm Võng Tinh Giải Tập 1”, tác giả: TOTHA. Quý đọc giả xem thêm sách ở bài viết Sách Phật Học Tinh Hoa: Phạm Võng Tinh Giải Tập 1 – TOTHA

 

 

One thought on “Chánh tri kiến và tư duy về tên gọi “Phật Thích-ca” hay “Phật Cồ-đàm”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s