Thập đại đệ tử Phật

Hình Đức Phật Cồ-đàm lúc khoảng 40 tuổi

3.png

Hình này do đệ tử của Ngài là Phú-lâu-na (Punna) vẽ lúc Phật còn tại thế. Bức tranh này được giữ tại bảo tàng London, Anh Quốc, do các nhà khảo cổ học khai quật tại Ấn Độ. Tấm ảnh đen trắng là hình nguyên thuỷ khi tìm thấy và tấm hình màu được người Trung Hoa tô lại để nhìn kĩ hơn nét mặt của Ngài và thêm chú thích nào.

Picture1.png

Dòng chữ Hán phía trên là Thích-ca Mâu-ni Phật

Hai hàng chữ hai bên là bài Kệ Lục Như:

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mọng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán.

(Tất cả các pháp hữu vi

Như bóng, bọt nước, có gì khác đâu

Như sương, như điện loé mau

Hãy xem như giấc chiêm bao mơ màng)

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
ĐIỀU CẦN GHI NHỚ
MA-HA-CA-DIẾP -ĐẦU ĐÀ ĐỆ NHẤT
A-NAN-ĐÀ – ĐẠI VĂN ĐỆ NHẤT
XÁ-LỢI-PHẤT – TRÍ HUỆ ĐỆ NHẤT
PHÚ LÂU NA -THUYẾT PHÁP ĐỆ NHẤT
MỤC KIỀN LIÊN – THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT
CA CHIÊN DIÊN – LUẬN NGHỊ ĐỆ NHẤT
A NA LUẬT – THIÊN NHÃN ĐỆ NHẤT
ƯU BA LI – GIỚI LUẬT ĐỆ NHẤT
LA HẦU LA – MẬT HẠNH ĐỆ NHẤT

LỜI MỞ ĐẦU

Dưới sự giáo hoá minh bạch, thực tế của đức Phật (Ta là Phật đã thành, Chúng sanh là Phật sẽ thành) vào thời điểm ngài còn tại thế (cách nay hơn 2500 năm), kết nối cùng tăng đoàn Tỳ kheo nhiệt tâm tận tuỵ truyền giảng rộng rải giáo pháp đích thực (chánh pháp), nội dung dẫn dắt không hình thức tôn tạo siêu huyền, sát cánh đối ứng vào từng hoàn cảnh của chúng sanh gồm đủ các thành phần (giai cấp, trình độ, đạo đức,…)  giúp họ sớm được khai ngộ. Trong Tăng đoàn của Phật từ lúc Ngài thành đạo đến khi nhập Niết Bàn (suốt 45 năm giáo hoá) đã giúp chứng đắc khoảng 2400  A La Hán. Trong số đó bậc ưu tú về mặt đạo hạnh, sở trường và sở chứng, có mười người tu thành đạt phẩm vị lớn nhất (Thập đại đệ tử) so trong tăng đoàn Phật giáo. Thập đại đệ tử (zh. 十大弟子, bo. ཉན་ཐོས་ཉེ་འཁོར་བའུ་) được nhắc nhở trong kinh sách Đại thừa (sa. mahāyāna) gồm :

Ma-ha-ca-diếp (zh. 摩訶迦葉, sa. mahākāśyapa, bo. འོད་སྲུང་ཆེན་པོ་): Đầu-đà (tu khổ hạnh) đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Độ; ông là người yêu cầu mở đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên của Phật giáo.

A-nan-đà (zh. 阿難陀, sa. ānanda, bo. ཀུན་དགའ་བོ་): Đa văn đệ nhất, người “nghe và nhớ nhiều nhất”, được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Độ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ma-ha-ca-diếp; tuy là Đa văn đệ nhất nhưng sau khi Đức Phật Niết-bàn ông mới chứng quả A-la-hán rạng sáng ngày kết tập kinh điển đầu tiên.

  1. Xá-lợi-phất(zh. 舍利弗, sa. śāriputra, bo. ཤཱ་རིའི་བུ་): Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh Tiểu thừa (sa.hīnayāna); trước khi xuất gia, ông là một luận sư nổi tiếng trong giáo đoàn Bà-la-môn.
  2. Tu-bồ-đề(zh. 須菩提, sa. subhūti, bo. རབ་འབྱོར་): Giải Không (sa. śūnyatā) đệ nhất. Tu-bồ-đề thường xuất hiện trong kinh điển hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa.
  3. Phú-lâu-na(zh. 富樓那, sa. pūrṇa, bo. གང་པོ་): Thuyết Pháp đệ nhất;
  4. Mục-kiền-liên(zh. 目犍連, sa. mahāmaudgalyāyana, bo. མོའུ་འགལ་གྱི་བུ་): Thần thông đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lợi-phất; sau khi xuất gia được 7 ngày ông đã đoạn trừ hết các lậu hoặc, chứng quả A-la-hán (阿羅漢; sa. arhat, arhant; pi. arahat, arahant)
  5. Ca-chiên-diên(zh. 迦旃延, sa. katyāyana, bo. ཀ་ཏྱའི་བུ་): Biện luận đệ nhất;
  6. A-na-luật(阿那律, sa. aniruddha, bo. མ་འགགས་པ་): Thiên nhãn đệ nhất;
  7. Ưu-ba-li(優波離, sa. upāli, bo. ཉེ་བར་འཁོར་): Giới luật đệ nhất;
  8. La-hầu-la(羅睺羅, sa. rāhula, bo. སྒྲ་གཅན་འཛིན་): Mật hạnh đệ nhất, ông cũng là người con duy nhất của Thái tử Tất Đạt Đa (Phật Cồ-đàm Mâu-ni)

ĐIỀU CẦN GHI NHỚ

1.     NHẮC NHỞ THỜI MẠT PHÁP

Những vị đệ tử ưu tú trên thảy đều xuất phát tử ngoài đời (thế tục) và đã từng hưởng thụ lạc trần, nhưng với tinh thần tinh tấn quyết vượt qua mọi chướng ngại (ma chướng Tham-Sân-Si) đã giúp họ thành tựu với những quả vị cao quý nhất. Chúng ta cùng nhau xem đó là những tấm gương sáng giúp mình soi rọi trên con đường tu tập tiến hoá, xoá tan đi mặc cảm tự ti rằng đời mình đã từng bị nhiễm ô không đạt đủ phẩm hạnh,…khép nép, thụ động nương tựa, cầu cạnh, tự hạ mình vái lạy vào người khác..một cách mê muội, liệu rằng người dẫn dắt ấy có đủ phẩm hạnh độ tha giúp ta tiến hoá được không hay là ngược lại? Và bản thân ta không tự tin chính mình thì làm sao tìm thấy sự tự tại (mãi tự trói mình vào những nghi thức, đám đông mê tín, tà kiến biện thông,…), không được tự tại thì sao mà thấy, mà lần ra con đường giải thoát được?…Chúng ta hãy bình thản và tự tin, đối chiếu vào giáo lý nguyên thuỷ của đức Phật qua những lời khai thị của Ngài đối với 10 vị đại đệ tử ưu tú nêu trên, qua tích sử để lại (trong số đó có ngài Ưu ba li xuất thân từ giai cấp Thủ-đà-la: nô lệ, thất học) giúp cho ta thấy rằng Phật Pháp là phương pháp giáo hoá hướng tâm chúng sanh giác ngộ (nhận ra chân lý của vũ trụ : vô thường, vô ngã, nhân quả, chân không và con đường giải thoát), pháp luận dẫn dắt hoàn toàn mang tính khoa học (nhắc nhở mọi người luôn trí kiến và tư duy rà soát lại Thân và Tâm mình ngày càng tinh tấn để khai sáng Tuệ giác mà nhận ra chân lý giác ngộ), bám sát thực tế (khổ và cách diệt khổ), phát triển rộng rải khắp đại chúng. Đức Phật đã dẫn dắt thành công 2,400 người chứng đắc thánh quả A La Hán, trong đó xuất thân từ đủ thành phần giai cấp cao thấp khác nhau: trí thức, nô lệ, tướng cướp, kỷ nữ,…với phương pháp giáo hoá thật là bình dị với chủ hướng cơ bản là giúp cho muôn loài cùng nhau giác ngộ không phân biệt cao thấp, hoàn toàn không phải là học thuyết siêu huyền, tôn tạo quyền lực cực đoan, giáo điều mê tín mà các thế hệ kế thừa càng về sau càng chế tác dần sai lệch xa so với nội dung của giáo pháp chính thống (nguyên thuỷ), biến hoá hình ảnh bình dị của người Trí giả thẩm lặng (Mâu-ni : trí giả thầm lặng) ngày ấy trở thành một vị giáo chủ, vị thần linh, thượng đế,…

2.     NHỮNG CHÁNH LÝ GIÁO HOÁ TRONG HẬT HỌC NGUYÊN THUỶ:

1.    TÍNH ĐẠI CHÚNG

“Ta không phải là Thượng đế tối cao hay Thần linh chuyên hành quyền phán quyết…mà là người chỉ đường (Đạo) như bao tiền nhân Minh Triết khác mà thôi, nhằm giúp cho chúng sanh (mọi loài) thoát khỏi sinh, tử, luân hồi nếu đi đúng đường (chánh đạo), để tiến tới hoà nhập cùng Chân Không Toàn Giác (Giác Ngộ)” – Kinh A Hàm

“ …Ta là Phật (người Giác Ngộ) đã thành và chúng sanh là Phật sẽ thành không hơn không kém…” – Kinh Lăng-già

“Muôn loài đều chung cùng một Bản thể. Bản thể ấy không phân biệt nhân và ngã. Tất cả vạn vật đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra. Không có một pháp gì có thể tự nó tồn tại độc lập được. Ta và vạn pháp đã nương nhau mà tồn tại thì việc đem lòng từ bi và những ân huệ để bố thí cho chúng sinh, mới xem ra thì có vẻ như là vì người, mà thật ra thì chính ta cũng có được ích lợi lớn lao.” – Kinh Bách Du

2.    TÍNH THỰC TẾ

“Hãy tự làm hòn đảo cho chính mình, hãy lấy chính mình làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác, hãy lấy Phật pháp làm hòn đảo, lấy Phật pháp làm nơi nương tựa, không ai khác có thể làm nơi nương tựa cho mình.” – Kinh A Hàm

“Luận người hành đạo như cầm dao bén, như bưng chén thuốc độc; nếu người nào  không kham nổi thì chi bằng đừng làm tốt hơn. Vì sao? Vì giữ gìn Giới không tinh tấn thì trở lại hại mình.” – Kinh Vị tầng Hữu Thuyết Nhân Duyên tr.111

“Thà cắt thịt mình dùng để nuôi miệng chớ không dùng tâm tà thọ người cúng thí. Khó lắm. Khó lắm! Cẩn thận. Cẩn thận!” – Kinh Vị tầng Hữu Thuyết Nhân Duyên tr.111

“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Phàm phu dính mắc vào hình tướng rõ ràng thảy đều là vọng tưởng hư hoại mà thôi).” – Kinh Kim Cang

“Kẻ nào thấy Chánh Pháp (Dhamma) là thấy được Như Lai (Tathàgata).
Kẻ nào thấy được Như Lai là thấy được Chánh Pháp.
Kẻ nào nắm lấy áo của Như Lai mà chưa thấy được Chánh Pháp, thì chẳng thể được xem như đã thấy Như Lai.”

3.    TÍNH KHOA HỌC

“Này quí thầy! Đối với những pháp môn Như Lai đã dạy, quí thầy hãy ghi nhớ lấy, đừng để cho quên mất! Như Lai cũng như ông thầy thuốc, chẩn bệnh và cho thuốc, còn uống thuốc hay không là do người bệnh; Như Lai cũng như người chỉ đường, chỉ rõ con đường đúng, còn đi hay không đi thì không phải là do lỗi của người chỉ đường. Này quí thầy! Những giáo pháp về Bốn sự thật, Mười hai nhân duyên v.v… mà Như Lai đã đạy, đều là những chân lí mà Như Lai đã chứng ngộ, là cây đèn sáng của thế gian, là chiếc thuyền từ trên biển khổ. Những người đã hiểu rõ và tin tưởng vào chúng thì chúng chính là cánh cửa đưa họ vào đường giải thoát. Giờ đây Như Lai sắp nhập Niết-bàn, đối với các giáo pháp ấy, nếu ai còn chỗ nào nghi ngờ thì hãy nên bày tỏ ra ngay để Như Lai giảng giải lại”.

“Này các Kàlàmas, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời đồn hay bởi truyền thống, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời người khác nói, chớ để bị dẫn dắt bởi những gì ghi lại trong Kinh điển, bởi lý luận hay suy diễn, bởi xét đoán bề ngoài, bởi tán thành một lý thuyết nào đó, bởi lòng tôn trọng “vị Sa môn này là Thầy ta”. Mà này các Kàlàmas, khi các vị tự mình biết rõ: “Những pháp này là bất thiện, những pháp này đáng bị khiển trách và bất lợi”. Lúc ấy các vị hãy từ bỏ chúng… “Và này các Kàlàmas, khi nào các vị tự mình biết rõ: “Những pháp này là thiện, những pháp này là không lỗi và có lợi”, lúc ấy các vị hãy tiếp nhận và an trú trong pháp đó” – Kinh Tăng Chi Bộ Tập I

“Theo Như Lai, Tin Như Lai, Kính nể Như Lai,… Mà hiểu sai pháp Như Lai chính là phỉ báng Như Lai.” – Kinh A Hàm

“Pháp của Như Lai là đến để thấy chứ không phải để tin…Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh mờ ám, người hiểu giáo lý mà không lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên lòng tin và hiểu biết phải cùng đủ mới làm cội gốc tu hành.” – Kinh Niết Bàn

*Ghi chú : Tài liệu biên soạn về Thập đại đệ tử Phật, PHNT tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, xét thấy các tài liệu trình bày theo nhiều quan điểm đa phần phần khác nhau… nguyên nhân có lẽ do sự truyền tụng kinh điển đã trải qua hơn 2,500 năm lịch sử, cùng sự thăng trầm của Phật giáo qua từng thời kỳ biến động lịch sử đã gây nên sự ảnh hưởng này… Nhận thức từ luận thuyết cơ bản của T Y PhápTam Pháp n mà đức Phật đã gói gọn từ những điểm trọng yếu trong học thuyết của mình, cũng để nhắc nhở các đệ tử trước khi ngài nhập Niết-bàn nhằm tránh cho giáo pháp của Ngài bị hiểu sai, bị thêu dệt làm biến dị tính cốt lõi mà Ngài cần nói với thế gian: Đó là con đường giải thoát luân hồi. Theo thời gian giáo lý chân thật cao quý có khả năng giúp cho muôn loài thật sự giải thoát khổ đau đã dần dần bị biến dị, thay vào đó ngày càng hình thành nên những kiến giải huyễn hoặc, tôn tạo, phi thực tế, sai lệch hoàn toàn giáo lý nguyên thuỷ (hình thành nên vấn nạn tà kiến biện thông) làm mê hoặc tín đồ, nhất là trong chu trình biến động sự sống hiện nay (Thiên tai, Địa tai và Nhân tai) khiến cho Thân, Tâm con người càng bị rối loạn, kéo theo không phân biệt đâu là chánh tà, nên dễ bị sa vào (si mê) tà kiến tôn tạo danh sắc hỗn tạp (Hạ ngươn mạt pháp), vì vậy sẽ tạo điều kiện (nhân duyên) cho tà pháp ngày càng phát triển (pháp tuỳ nhân duyên sinh), tất yếu tạo điều kiện làm lu mờ dần chánh pháp (pháp cũng theo nhân duyên diệt), dần dần gây nên sự  thất truyền chánh pháp…

Do đó, đứng trên quan điểm khách quan hoà đồng Khoa học-Tâm linh-Tôn giáo như đã giới thiệu, với chủ hướng Chân-Thiện-Mỹ nhằm nghiên cứu phân tích chắt lọc ra những cốt lõi của vấn đề chính yếu và thiết thực, những lời khai thị đúng theo tinh thần Phật học nguyên thuỷ không tôn tạo, giáo điều, loại bỏ những thêu dệt huyễn ảo thần thoại, không đi sâu vào lịch sử đời tư của nhân vật. Với tiêu chí là chúng ta cùng tự đối chiếu theo gương sáng tiền nhân, cùng nhau tu học theo đúng chánh pháp và luôn tự tin vào chính mình, chúng ta sẽ tìm ra sự tự tại đích thực – mạch nối thông dẫn đến sự giải thoát luân hồi. Hãy tinh tấn, tự tin và tự tại, ắt ta sẽ tìm ra chân lý…

T Y Pháp (Bn điu cn thc hin đúng theo khi hiu rõ Pháp) :

Y Pháp bt quy Nhân (Đúng Pháp chứ không bị cuốn theo người).

* Y Lý bt quy Lun  (Đúng chân lý chứ không bị cuốn theo đủ thứ luận điểm, lời lẻ xa vời thực tế).

*Y Liu Nghĩa bt quy Huyn Nghĩa (Đúng nghĩa chính rõ ràng là sự cứu cánh giải thoát chứ không bị cuốn theo những nghĩa hảo huyền tôn tạo).

*Y Trí bt quy Thc      (Đúng với Trí sáng suốt nhận ra lẽ thật của vạn pháp chứ không bị cuốn theo những hình thức bề ngoài).

Tam Pháp n (Ba ni dung thiết thc trng yếu ca Pht Pháp) :

                   * Chư Hành Vô Thưng n       (Mọi vận hành của sự vật, hiện tượng trong thế giới danh, sắc đều không trường tồn, đó là quy luật tất yếu).

                  *Chư Pháp Vô Ngã n         (Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới danh, sắc,  đều không có cái riêng biệt tự do, đó là quy luật tất yếu)

                  *Niết Bàn Tnh Tĩnh n      (Tồn tại một nơi trong sạch, tự tại ngoài thế giới danh, sắc gọi là Niết Bàn, đó là quy luật tất yếu).

Nh thp bát t (zh. 二十八祖) chỉ 28 vị Tổ gốc Ấn của Thiền tông, cũng được gọi là Tây thiên nh thp bát t (zh. 西天二十八祖). Tên các 28 vị tổ cụ thể như sau:

  1. Ma-ha-ca-diếp(zh. 摩訶迦葉, sa. mahākāśyapa)
  2. A-nan-đà(zh. 阿難陀, sa. ānanda)
  3. Thương-na-hòa-tu(zh. 商那和修, sa. śānavāsin)
  4. Ưu-bà-cúc-đa(zh. 優婆掬多, sa. upagupta)
  5. Đề-đa-ca(zh. 提多迦, sa. dhītika)
  6. Di-già-ca(zh. 彌遮迦, sa. miśaka)
  7. Bà-tu-mật(zh. 婆須密, sa. vasumitra, cũng gọi là Thế Hữu)
  8. Phù-đà-nan-đề(zh. 浮陀難提, sa. buddhanandi, hoặc Phật-đà-nan-đề 佛陀難提)
  9. Phù-đà-mật-đa(zh. 浮陀密多, sa. buddhamitra, hoặc Phật-đà-mật-đa 佛陀密多)
  10. Bà-lật-thấp-bà(zh. 婆栗濕婆, sa. pārśva, cũng gọi là Hiếp tôn giả 脅尊者)
  11. Phú-na-dạ-xa(zh. 富那夜奢, sa. puṇayaśa)
  12. A-na-bồ-đề(zh. 阿那菩提, sa. ānabodhi, hoặc Mã Minh馬鳴, sa. aśvaghoṣa)
  13. Ca-tì-ma-la(zh. 迦毘摩羅, sa. kapimala)
  14. Long Thụ(zh. 龍樹, sa. nāgārjuna, cũng gọi Na-già-hạt-thụ-na 那伽閼樹那)
  15. Ka-na-đề-bà(zh. 迦那提婆, sa. kāṇadeva, hoặc ngắn là Đề-bà 提婆, hoặc Thánh Thiên, sa. āryadeva)
  16. La-hầu-la-đa(zh. 羅睺羅多, sa. rāhulabhadra)
  17. Tăng-già-nan-đề(zh. 僧伽難提, sa. saṃghanandi)
  18. Tăng-già-xá-đa(zh. 僧伽舍多, sa. saṃghayathata)
  19. Cưu-ma-la-đa(zh. 鳩摩羅多, sa. kumāralāta)
  20. Xà-dạ-đa(zh. 闍夜多, sa. śayata)
  21. Thế Thân(zh. 世親, sa. vasubandhu, hoặc Thiên Thân 天親, Bà-tu-bàn-đầu 婆修盤頭)
  22. Ma-noa-la(zh. 摩拏羅, sa. manorata)
  23. Cưu-lặc-na(zh. 鳩勒那, sa. haklenayaśa, hoặc Hạc-lặc-na 鶴勒那)
  24. Sư Tử Bồ-đề(zh. 師子菩提, sa. siṃhabodhi)
  25. Bà-xá-tư-đa(zh. 婆舍斯多, sa. baśaṣita)
  26. Bất-như-mật-đa(zh. 不如密多, sa. puṇyamitra)
  27. Bát-nhã-đa-la(zh. 般若多羅, sa. prajñādhāra)
  28. Bồ-đề-đạt-ma(zh. 菩提達磨, sa. bodhidharma)

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ PHẬT

1.     MA-HA-CA-DIẾP -ĐẦU ĐÀ ĐỆ NHẤT

      Khi Ðức Phật còn tại thế, trong 45 năm thuyết pháp với hơn 300 hội, với những phương thức dẫn dắt thật là bình dị, đa dạng thích hợp với mọi trình độ, căn cơ của chúng sanh, sao cho tất cả đều nhận ra chân lý giải thoát (Khổ và Diệt Khô), với nhiều phương pháp giúp cho mọi chúng sanh tự khai thông (pháp môn) tuệ giác thoát khỏi mê lầm, tính có khoảng 8 vạn 4 ngàn pháp môn, ta lưu ý một lần nữa đó là những cánh thức (phương thức) giảng giải (thuyết giảng) vấn đề ‘Khổ và Diệt Khổ”, chứ không có nghĩa là có rất nhiều pháp môn giải thoát như các tôn giáo biến tướng (tà giáo) ngày nay lạm dụng… tùy vào căn cơ, trình độ hoàn cảnh, người hành giả có thể chọn tu theo một trong những pháp môn đó, có người chuyên tu thiền định, có người niệm Phật, tụng kinh, có người trì luật, có người tu phước bố thí, có người trì bình khất thực… Với tất cả hành trì, theo Phật hạnh nào cũng đáng kính nể, quý trọng. Trong số các Thánh chúng, Ma-ha-ca-diếp là người dốc lòng giữ gìn phạm hạnh, nên được Phật và Thánh chúng tôn xưng là bậc Ðầu Ðà Ðệ Nhất.

Ðại Ca Diếp sinh trong gia đình phú hào gần thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Ðà, tại thôn Sa La Ðà, có một gia đình thuộc dòng họ Bà La Môn rất giàu có, đó là Ni Câu Lự Ðà Kiệt Ba có tài sản có thể so sánh với Vua Tần Bà Sa La lúc bấy giờ. Ðại Ca Diếp phước tướng đầy đủ, tư chất thông minh, lúc lên tám đã được học văn học, toán thuật, thi họa, âm nhạc, thiên văn, tướng số… Các Ðạo sĩ Bà La Môn còn dạy cho Ngài phép tế đàn 4 mùa, Thánh điển Vệ Ðà, Nhân minh học v.v… Với các môn học, Ðại Ca Diếp đều thấu hiểu rất nhanh. Lớn lên ngài có vợ tên là Diệu Hiền. Mãi 12 năm sau, khi cha mẹ đều từ giã cõi đời,   Ðại Ca Diếp rời gia đình đi tìm thầy học đạo, trước khi tạm biệt Ðại Ca Diếp có hứa sẽ trở về hướng dẫn Diệu Hiền khi tìm được minh sư.

Năm 52 tuồi, Ðại Ca Diếp từ giã thân thuộc vào rừng tìm đạo, chính là lúc Ðức Phật Cồ-đàm thành đạo dưới cội Bồ Ðề. Mãi đến hai năm sau Ðại Ca Diếp vẫn chưa có đạo sĩ nào giúp thỏa mãn nguyện vọng, nhân buổi pháp hội. Ðại Ca Diếp biết Phật và tìm đến thành Vương xá, ngày ngày đến nghe pháp mà chưa chính thức ra mắt với Phật, vì lòng còn muốn dò xét. Từ chỗ ngồi giảng, Ðức Phật nhìn xuống thấy và biết Ðại Ca Diếp là người có thể kế thừa đạo nghiệp của Như Lai.

Tại hội Linh Sơn, khi đức Phật đưa lên một cành hoa sen, Ðại Ca Diếp mỉm cười, Phật biết chánh pháp đã có người tâm đắc kế thừa sau này.

Ca-diếp:   Thưa ngài Cồ-đàm, có phải khổ tự nó hình thành?

Phật:   Này Ca-diếp, ông không nên nói như thế.

Ca-diếp:   Hay là khổ được hình thành bởi một cái khác?

Phật:   Này Ca-diếp, ông không nên nói như thế.

Ca-diếp:   Hay là khổ một mặt tự hình thành và mặt khác được hình thành bởi một cái khác?

Phật:    Này Ca-diếp, ông không nên nói như thế.

Ca-diếp:    Hay là khổ không tự hình thành hoặc cũng không được hình thành bởi một cái khác, mà là được hình thành ngẫu nhiên?

Phật:    Này Ca-diếp, ông không nên nói như thế.

Ca-diếp:    Như vậy thì thưa Cồ-đàm, có khổ hay không?

Phật:    Này Ca-diếp, có khổ.

Ca-diếp:    Như vậy thì ngài Cồ-đàm không biết khổ và không thấy khổ?

Phật:    Này Ca-diếp, ta biết khổ, và ta thấy khổ.

Ca-diếp:    Như vậy thì cầu mong Thế tôn giảng cho tôi về khổ, trình bày cho tôi cái khổ.

Sau đó Phật thuyết giảng một cách tóm lược: Nếu quả quyết là người này thực hiện một hành vi và tiếp nhận những hậu quả, thì như vậy có một người có mặt từ đầu – nếu nói trong trường hợp của ông ta là khổ tự sinh thì sẽ dẫn đến thường kiến. Nếu quả quyết là một người khác thực hiện các hành vi và cảm nhận hậu quả thì có một người chịu hậu quả. Nếu nói trong trường hợp của ông ta là khổ được hình thành bởi người khác thì sẽ dẫn đến đoạn kiến. Từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung dung. Vô minh duyên hành, hành duyên thức… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do li tham ái và đoạn diệt hoàn toàn vô minh, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. (Saṃyuttanikāya SN 12.17)

Một hôm sau khi mãn buổi thuyết pháp Phật đi đường tắt đón Ðại Ca Diếp ở một ngã đường. Trên đường về gặp Phật Ðại Ca Diếp chính thức bái yết Phật, xin được tiếp tục theo học đạo. Qua cuộc gặp gỡ, Tôn giả theo Phật trở lại Tịnh Xá Trúc Lâm, ở đây Ðức Phật đem pháp Tứ Ðế, Thập nhị nhân duyên, khai thị cho Tôn giả. Vốn thích tu hạnh Ðầu Ðà sau khi gặp Phật, Tôn giả vẫn tiếp tục thực hành pháp tu phạm hạnh. Hạnh đầu đà có năng lực tịnh hóa tâm hồn, khi tu theo hạnh này cần giữ đủ 10 điều.

  1. Chọn ở nơi hoang vắng.
  2. Sinh hoạt bằng phép trì bình.
  3. Thường ở tại một nơi.

4.. Ngày ăn một bữa

  1. Khất thực không phân biệt giàu nghèo.
  2. Tài sản gồm có 3 y, một bình bát.
  3. Tư duy dưới gốc cây.
  4. Thường ngồi giữa đồng trống.
  5. Mặc áo phấn tảo.
  6. Sống tại các bãi tha ma.

Với 10 điều kiện trên, Tôn giả tuân giữ trọn vẹn chỉ có 9 điều, riêng điều khất thực số 5 Tôn giả không theo giáo đoàn, Tôn giả chỉ đến khất thực trước nhà người nghèo. Theo Ngài người giàu đã thừa phước đức, ta không cần phải mang phước đến cho họ, còn người nghèo vì thiếu phước đức ta cần đem phước điền cho họ gieo trồng. Trong hàng đệ tử Phật người đi khất thực ngược với Ðại Ca Diếp là Ngài Tu Bồ Ðề, chỉ đi khất thực nhà giàu. Nghe Tôn giả chỉ khất thực nhà nghèo, Ðức Phật khiển trách và khuyên nên đem tâm bình đẳng khất thực, từ bỏ tâm phân biệt. Với Tôn giả Phật còn khuyên không nên quá khổ hạnh, vì khổ hạnh là một cực đoan Ðức Phật đã bỏ sau khi bị kiệt sức ở xứ Ba La Nại, tu với 5 anh em Kiều Trần Như. Ngài đã tìm ra con đường trung đạo, và đạt được địa vị giác ngộ giải thoát. Với pháp khất thực bình đẳng có lúc Tôn giả tuân hành, riêng hạnh đầu đà Ngài vẫn giữ cho đến hơi thở cuối cùng, không ai lay chuyển được, cho nên Ngài được tôn xưng là bậc Ðầu Ðà Ðệ Nhất. Tầm vóc ảnh hưởng của Tôn giả rất lớn, như ánh sáng chói chang của mặt trời, vì thế Ngài còn được dịch là Ẩm Quang.

Trong Kinh Đại Bảo Tích, XIV Pháp Hội Bửu Lương Tụ, Phẩm Sa Môn Thứ Nhất Đức Phật dạy:

“Nầy Ðại Ca Diếp! Ta chẳng nói cạo đầu, đắp y gọi là Sa Môn, mà ta nói người có công đức và nghi thức đầy đủ gọi là Sa Môn (Sramana: siêng năng và chuyên cần thực hành Giới Định Huệ, đoạn tận tham sân si)”.

“Nầy Ðại Ca Diếp! Thầy Sa Môn thân mặc ca sa tâm phải lìa tham sân si. Tại sao? Vì tâm không tham sân si mới được mặc ca sa. Nếu tâm có tham sân si mà thân mặc ca sa, trừ người chuyên tâm trì giới, còn những kẻ chẳng trì giới thì gọi là tiêu diệt ca sa”

“… nên biết phá giới Tỳ Kheo làm tổn mất bao nhiêu phước đức ấy của thí chủ. Nếu thọ thí chủ cúng thí rồi mà hành ác pháp thì tổn tín thí ấy. Nầy Ðại Ca Diếp! Trong thời kỳ mạt pháp sẽ có Tỳ Kheo chẳng tu thân chẳng tu giới chẳng tu tâm chẳng tu huệ, ngu si như trẻ nít hướng đến tối tăm mà không biết, tâm họ chẳng điều phục nên thành Sa Môn cấu uế. Nầy Ðại Ca Diếp! Như vậy, ta nói Sa Môn cấu, Sa Môn tội, Sa Môn siểm khúc, kẻ giặc trong hàng Sa Môn.”

Trong  Kinh Đại Bảo Tích, XIV Pháp Hội Bửu Lương Tụ, Phẩm Sa Môn Thứ Hai Đức Phật dạy :

“Nầy Ðại Ca Diếp! Có nhiều ác Tỳ Kheo phá hoại Phật pháp chớ chẳng phải chín mươi lăm phái ngoại đạo phá hoại Phật pháp được. Ví như sư tử là chúa muông thú, khi nó chết tất cả hổ lang điểu thú không thể ăn thịt nó được. Trong thây sư tử tự sanh các thứ trùng tự ăn thịt nó.

Cũng vậy, trong Phật pháp ta sản xuất các ác Tỳ Kheo như vậy, họ tham lợi dưỡng, vì lòng tham nên chẳng dứt ác pháp chẳng tu thiện pháp chẳng lìa vọng ngữ. Các Tỳ Kheo nầy có thể làm hư hoại Phật pháp ta.”

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Quyển thứ bảy, Phẩm thứ chín Đức Phật dạy:

Những người giả trang hình tướng Tăng mà sống cuộc đời trụy lạc như thế, thọ hưởng vật dụng của đàn na tín thí sẽ bị sa đọa rất nặng vì “tín thí nan tiêu (tin tưởng bố thí để được tiêu trừ tai nạn)”. Câu chuyện về bốn Thạch Nữ sau đây là lời cảnh tỉnh cho những ai trộm mang hình dáng Sa Môn :

Hoàng hậu vợ vua Ba Tư Nặc (Ấn Độ) đi nghe Phật thuyết pháp, thường ngồi kiệu do bốn Thạch nữ khiêng (Thạch nữ là người ái nam, ái nữ, không có dục tính, tâm tình thô bạo, thân thể cứng như đá). Phật dạy: “Một kiếp nọ có bốn vị Bà La Môn xuất gia nhưng lười biếng chẳng chịu tu hành; họ mưu mô với nhau, ba người ngồi dưới gốc cây giả dạng thiền định, còn người thứ tư vào thành nói rằng có ba vị A La Hán đã đắc quả, ai cúng dường thì được nhiều phước báu. Họ cứ thay phiên nhau mà loan truyền như vậy, dân chúng kéo đến cúng dường rất đông, do đó bốn người được no đủ. Trong số thí chủ có một bà già nghèo khổ, làm lụng khó nhọc mới có đủ cơm ăn, nhưng ngày nào cũng nhịn một bát cơm để cúng dường bốn vị này, nhận mấy vị này làm Thầy, hầu hạ, quét dọn với một tâm ý hoàn toàn thanh tịnh. Do phước báu tốt đẹp, kiếp này bà sinh làm Hoàng hậu, giầu có xinh đẹp. Còn bốn vị Bà La Môn tu hành giả dối thì tái sinh làm Thạch nữ khiêng kiệu hầu bà để trả nợ tiền căn.” Nghe Phật nói xong, Hoàng hậu sợ quá, không dám bắt bốn vị Thầy cũ của mình ở kiếp trước phải khiêng kiệu, hầu hạ cực nhọc, mà cho họ được tự do, thoát vòng nô lệ. Nhưng được tự do, bốn người Thạch nữ lại không sao kiếm được miếng ăn, vì dân chúng chẳng ai muốn mướn họ. Bị đói khát, họ lại đến xin Hoàng hậu cho tiếp tục khiêng kiệu như trước.

Trong kinh Đại-Bát Niết-bàn, trước khi nhập diệt, đức Phật ân cần chỉ dạy lần cuối, lưu ý cho Bồ-tát Ca-Diếp và các Thánh-chúng rằng trong hàng chư tăng Thanh-Văn vẫn có giả danh tăng và có chơn thiệt tăng, có Trì-giới tăng và Phá-giới tăng, có hàng Tỳ-kheo Bồ-tát đáng tôn trọng của Phật, mà cũng có ma hóa hình Phật để chực chờ phá hoại Chánh-pháp của Như-lai:

“Này Ca Diếp ! Sau khi ta nhập Niết Bàn bảy trăm năm thì ma vương Ba Tuần dần dần sẽ hủy hoại, nhiễu loạn chánh pháp Như Lai. Ví như người thợ săn thân mặc pháp phục, Ma vương Ba Tuần cũng lại như vậy, hóa làm hình dáng Tỳ kheo, hình dáng Tỳ kheo ni, hình dáng Ưu-bà-tắc, hình dáng Ưu-bà-di. Vua ma cũng lại hóa làm thân Tu-đà-hoàn… cho đến hóa làm thân A-la-hán và sắc thân của đức Phật. Ma vương dùng hình tướng hữu lậu này hóa làm thân vô lậu mà hủy hoại chánh pháp Như Lai.”

Bởi vậy cho nên trong Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như lai” (Nếu dùng sắc thấy ta, nương âm thanh mà tìm ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai).

Có một hôm, Đức Phật đang thuyết pháp, Tôn giả đi đến, Phật liền nhường nửa tòa ngồi cho Tôn giả. Tòa ngồi rất lớn, Phật liền chia nửa tòa bảo Tôn giả rằng: ‘Ca Diếp, hãy đến ngồi bên cạnh Như Lai!” Tôn giả cùng ngồi với Phật. Vì sao Phật lại chia nửa tòa ngồi cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp? Vì lúc này tuổi của Tôn giả đã rất lớn, khoảng 104 tuổi. Phật khuyên Tôn giả: “Tuổi của ông đã quá lớn, tinh thần cũng sẽ không được sung mãn lắm; ông nên ăn thêm chút vật ngon, mặc thêm ít đồ tốt, ở phòng tiện nghi hơn một chút, không nên hành hạnh đầu đà nữa! Như vậy thật là vất vả! Tuổi ông đã quá lớn, sợ không kham nổi!” Tuy Phật đã khuyên như thế, Tôn giả cũng không nghe theo, vẫn thực hành theo hạnh đầu đà. Do vẫn thấy Tôn giả hành theo hạnh đầu đà, vẫn sống khổ hạnh, kham chịu nhọc nhằn như thế, nên Phật đã tán thán Tôn giả một cách sâu sắc rằng: “Pháp của Như Lai trụ lâu ở đời, phần lớn có liên quan đến sự thực hành hạnh đầu đà của Tôn giả Ca Diếp. Tôn giả Ca Diếp có thể thực hành hạnh đầu đà như thế, pháp của Như Lai chắc chắn có thể trụ lâu dài trên thế gian!”.  Cho nên ở trong số đệ tử của Phật, Tổ sư Ca Diếp được tôn  là “Đầu đà đệ nhất”, đứng đầu về thực hành hạnh đầu đà.

2.    A-NAN-ĐÀ – ĐẠI VĂN ĐỆ NHẤT

Trong số các vị đệ tử của Phật, người có tướng mạo trang nghiêm, trí nhớ thật siêu phàm, phải kể đến tôn giả A-nan. Phụ thân của A-nan là Bạch Phạn Vương, còn Đề-bà-đạt-đa là anh ruột. Sở dĩ, A-nan gia nhập Tăng đoàn trong tuổi đồng niên, vì đó là điều trông mong của đức Phật. Khi đức Phật trở về quê thuyết pháp, Bạch Phạn Vương sợ A-nan chịu ảnh hưởng về tư tưởng xuất thế của Phật, cho nên sau khi gặp Phật không lâu, nhà vua bèn đưa A-nan sang nước Tỳ-xá-ly, không để có cơ hội thường tiếp xúc với Phật. Khi Phật đi sang nước Tỳ-xá-ly, Bạch Phạn Vương lại đưa A-nan trở về thành Ca-tỳ-la. Trong số các vương tử, đức Phật hy vọng nhất là A-nan theo Ngài xuất gia. Buổi tương kiến đầu tiên, vừa thấy A-nan, đức Phật đã nghĩ thầm “Nếu như A-nan xuất gia, thì tương lai có thể thiệu long Phật chủng, khiến Phật pháp lưu truyền vĩnh viễn ở hậu thế”.

Phật biết A-nan đã trở về thành Ca-tỳ-la, bèn lập tức quay về và đến ngay cung điện của Bạch Phạn Vương, ngự tại căn phòng kế cận phòng của A-nan. A-nan mở cửa ngó qua thấy đức Phật bèn cung kính đảnh lễ, và lấy quạt quạt cho đức Phật. Qua thái độ này chúng ta có thể thấy rằng trong tâm hồn thơ bé của A-nan đã sớm khởi lòng tin tưởng cung kính đối với đức Phật. Do đó, khi gặp cơ hội, A-nan bèn cùng các vương tử Bạt-đề… gia nhập Tăng đoàn.

Theo kinh sách, A-nan-đà được xem là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật. Tôn giả chỉ chấp nhận làm người hầu cận cho Phật, khi được Phật hứa rằng không vì thế mà được quan tâm hơn các vị khác.  A-nan-đà cũng chính là người khám phá và trừ bỏ âm mưu giết Phật của Đề-bà-đạt-đa. Hơn ai hết, A-nan-đà bênh vực cho việc nữ giới được học hỏi giáo pháp. Nhờ sự can thiệp của Tôn giả mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn, tướng mạo ông rất khôi ngô cho nên ông luôn gặp phải sự quấy rối của nữ giới khi khất thực, tâm ông rất từ bi không né tránh đối cảnh mà ngược lại ông cố gắng dẫn dắt họ cho đến cùng cho nên mất rất nhiều thời gian cho việc tu tập thiền định, đôi khi cũng mang đến những thị phi thế tục khó mà tránh được. Chính vì điều này mà trong lần kết tập thứ nhất, A-nan-đà bị Tăng-già chê trách là chứng đắc quá chậm. Tương truyền rằng, sau khi Phật nhập Niết-bàn, A-nan-đà mới giác ngộ, đắc quả A-la-hán trong đêm trước lần kết tập thứ nhất.

Đức Phật ban bố giáo lý của Ngài,”vì lợi ích cho nhiều người, vì an lạc cho nhiều người, vì thương tưởng thế gian” (bahujanahitaya bahujanasukhaya lokanukampaya)

Khi ấy Đức Phật đầy từ bi và nhân ái, đã khoan hòa với người thị giả tận tụy:

“Anan, hiện nay các căn của ông, nếu hoàn toàn gở hết khắn chặt nơi trần cảnh, trong chinh phục được phiền não, trở về Chân Tâm rồi, thì hiện tiền thân căn và thế giới đều không còn, cũng như nước nóng băng tan Ông liền chứng được quả Phật”. (L.N. tr.149)

“A Nan, đoàn thế Tăng già còn chờ đợi gì nơi ta nữa? ta đã nói Phật pháp không phân biệt cao thấp. Về phương diện chân lý Như Lai không có gì như nắm tay khép chặt của một ông thầy (acariyamutthi) . Này A-nan, nếu người nào có ý nghĩ muốn lãnh đạo Tăng già , Tăng già phải tùy thuộc vào họ, thì dĩ nhiên họ sẽ đặt ra những lời chỉ dẫn. Nhưng Như Lai không có ý nghĩ ấy. Vậy thì sao Như Lai phải lưu lại những lời chỉ dẫn liên hệ đến tổ chức Tăng già? Nay ta đã già, A-nan đã bảy mươi tuổi. Như một chiếc xe cũ cần phải sửa chữa mới chạy được, cũng thế thân xác của Như Lai bây giờ cũng chỉ tiếp tục điều hành nhờ sửa chữa. Bởi thế , này A-nan :

Hãy t làm hòn đo cho chính mình, hãy ly chính mình làm nơi nương ta, không nương ta vào ai khác, hãy ly Pht pháp làm hòn đo, ly Pht pháp làm nơi nương ta, không ai khác có th làm nơi nương ta cho mình”.

Trong pháp hội giảng thuyết kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ngài đã ân cần dặn dò Tôn-giả A-Nan và các Thánh chúng : “Các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm có thể xảy ra lúc tu Chỉ và Quán, đó là do việc thanh tịnh tâm ý của các ông  không khế hợp với pháp chân thật, nên phải bị rơi vào tà kiến. Do trong khi tu tập, các ông cảm thấy hài lòng, thoã mãn khi có chút ít thành quả. Thí như Tỳ-kheo Vô-Văn mới đạt được tứ thiền, nhưng lại vọng ngôn cho rằng mình đã chứng Thánh. Khi phước báo cõi trời hết, tướng suy xuất hiện, liền nổi tâm sân giận mà phỉ báng: “Chứng quả A-la-hán mà còn phải chịu tử sanh!”. Ngay đó ông ta liền rơi vào ngục A-tỳ”.

Không ít những người tu Chỉ, tu Quán phản chiếu tự tâm, đạt được chút ít thanh tịnh, có chỗ khởi tâm ngã mạn, thì cũng liền ngay đó đi lệch chánh kiến giải thoát “ly nhất thiết tướng” của Như-lai, để phải bị rơi vào tà kiến, do các ma sự nhỏ nhiệm tiềm ẩn trong tâm thức một cách vi tế phát sinh.

Tôn giả A-nan vừa trẻ trung, rất hảo tướng và thuyết pháp rất trôi chảy lưu loát:

Tướng như trăng thu đầy

Mắt biếc tợ sen xanh

Phật pháp rộng như bể

Đều rót vào tâm A-nan.

      Vì vậy, ông được rất nhiều người hâm mộ nhất là phái nữ và đây cũng chính là yếu tố gây cản trở ông hoàn thành đạo lực, đưa đến mất chánh niệm trước sắc đẹp tuyệt vời của kỹ nữ Ma-đăng-già. Một hôm lúc khất thực, tôn giả đi ngang qua nhà Ma-đăng-già bị phép huyễn thuật. Nàng ấy dùng tà chú Tiên Phạm thiên đạo Sa-tỳ-ca-la bắt vào phòng riêng dựa kề vuốt ve làm cho tôn giả A-nan gần phá giới thể. Lúc nầy, đức Phật đang thọ trai tại cung vua Ba-tư-nặc, ngài biết A-nan đang sắp bị nạn Ma-đăng-già và gần phá giới thể, liền trở về tịnh xá phát huệ truyền thần chú Thủ Lăng nghiêm đến cứu A-nan, mật ý như sau :

Trong khi tu Thiền định lại gặp năm chục thứ ma (sắc, thọ, tưởng, hành, thức mỗi ấm có mười) nó biến hiện đủ điều, nào là ma nội tâm, ma ngoại cảnh, đủ cách nhiễu hại hành giả (chính đức Phật đã từng trải nghiệm lúc thiền định dưới cây Bồ đề vẫn còn bị ba nàng con của Ma vương tận lực quấy nhiễu…).  Sau mỗi đoạn ma hiện, Phật đều dạy rằng: “Do hành giả dụng công tu thiền, nên nó biến hiện ra như vậy, thấy lạc cảnh, hào quang, hoan hỉ không phải là đặng đạo hay chứng Thánh quả, nếu hành giả biết trước, thì các cảnh ma kia lần lần tiêu diệt, không hại chi, còn mê lầm không biết tự cho mình đặng đạo chứng Thánh, sanh tâm chấp trước, thì bị ma nó cám dỗ, rồi phải đọa vào đường tà, làm quyến thuộc của ma.”  Bởi thế, nên người tu hành cần phải thận trọng, chớ nên gặp chi tin nấy mà bị ma cám dỗ, rất nguy hiểm cho đời mình về hiện tại cũng như vị lai. Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần, bảo các đệ tử: “Nên đem lời ta nói đây truyền dạy cho chúng sanh đời sau, khiến mọi người đều biết rõ, để tránh khỏi các ma nhiễu hại, trên đường tu hành thẳng đến đạo Bồ Đề.”

Năm ứng thân của đức Phật được 80 tuổi, Ngài đưa A Nan đi hành hóa tới tháp Già Bà La, ở đấy có rất nhiều vị tỳ kheo vân tập. Ðức Phật nói với đại chúng rằng :

“Này chư tỳ kheo ! Hôm nay ta gặp các ông tại nơi đây là điều rất tốt. Từ khi ta thành đạo và chứng được chính giác, đã thương tưởng bảo hộ các tỳ kheo và đệ tử, giáo hóa đại chúng, ban phúc cho mọi người, đem sự an vui bố thí cho kẻ khác, dùng từ bi mà đối đãi với tất cả chúng sinh. Ta thuyết pháp độ sinh, chưa hề nề hà gian lao hay nghĩ đến sự nghỉ ngơi.

Ðiều ta muốn nói thì đã nói xong với các ông rồi. Ta không hề nghĩ các ông thuộc về ta, chúng sinh thuộc về ta, cho ta toàn quyền sai khiến. Ta chỉ là một người giữa các ông, thường thường cùng các ông ở chung một chỗ. Ðiều ta muốn thuyết giảng đã thuyết giảng xong, Như Lai không hề giữ lại điều bí mật nào, không áp bức ai và cũng không muốn ai phải phục tùng.

Ứng thân của ta nay đã già, như một cái xe cũ thì phải hư, cứ sửa sang, bảo trì mãi cũng không phải là một biện pháp lâu dài được. Trong ba tháng nữa, ta sẽ y theo pháp tính mà nhập Niết Bàn ở giữa hai gốc cây Ta La thành Câu Thi Na Ca La, được sự an ổn vô thượng. Nhưng ta sẽ luôn luôn gia hộ cho các ông và cho những chúng sinh vị lai tin tưởng vào giáo pháp của ta.”

Tin đức Phật nhập Niết Bàn vừa mới ban ra, nên đệ tử của Ngài ai cũng kinh hoàng. Trong tâm của họ, trong khoảnh khắc mặt trời và mặt trăng đều tắt phụp, trời đất xoay tròn. Ðức Phật lại nói tiếp :

“Các ông không nên đau buồn, vạn vật trong trời đất, hễ có sinh thì tất nhiên phải có tướng vô thường. Ðịnh luật này, bất kỳ là ai chăng nữa cũng không trốn thoát được. Ta đã chẳng nói điều này cho các ông nghe rồi sao? Những gì mình yêu thương đều phải có lúc mất mát, có tụ họp thì phải có xa lìa, thân thể của người đời do tâm và vật chất tụ lại mà thành thì tất nhiên là vô thường, thì không thể tự do như người ta thường tưởng. Thân xác thịt không thể vĩnh viễn tồn tại, ta đã không thường xuyên nhắc nhở điều này hay sao?

Muốn ứng thân của Phật ở mãi trên thế gian là đi ngược lại với quy tắc tự nhiên của pháp tính. Ta là người đã thị hiện chân lý của vũ trụ, thì đương nhiên là không thể đi ngược lại với pháp tính.

Nếu các ông muốn ta ở lại mãi trên thế gian là các ông đã không y theo giáo pháp của ta đã giảng dạy mà tu hành, vậy thì cho dầu ta có sống thêm ngàn vạn năm nữa phỏng có ích lợi gì?

Nếu các ông có thể y theo giáo pháp của ta mà tu hành thì chẳng khác nào ta sống vĩnh viễn trong tâm các ông. Pháp thân huệ mệnh của ta biến khắp tất cả mọi nơi, luôn ở cùng một chỗ với các ông và với chúng sinh đời vị lai.

Các ông hãy giữ lòng tin kiên cố, quy y nơi chánh pháp, y chánh pháp mà tu hành, không nên quy y nơi gì khác.

Các ông tu học thánh đạo không biếng trễ, giải thoát phiền não, trụ tâm không loạn, thì các ông đúng là bạn chân chính của ta.”

Lúc Phật sắp nhập Niết bàn, Đại chúng đưa vấn đề làm sao để cho Phật pháp tồn tại lâu dài ra thưa hỏi Thế Tôn. Mọi người thương lượng với nhau, rồi lại tìm A-nan, cử Tôn giả đến hỏi Phật mấy vấn đề:

+ Thứ nhất, Thế Tôn Niết-bàn rồi lấy ai làm thầy?
+ Thứ hai, sau khi Phật Niết-bàn, an trụ như thế nào?
+ Thứ ba, làm sao hàng phục kẻ ác (trong lẫn ngoài tăng đoàn)?
+ Thứ tư, khi kết tập kinh điển làm sao mọi người có thể hiểu đúng và tin?

Đức Thế Tôn an nhiên như thường lệ, từ bi vui vẻ trả lời:

– Này A-nan! Các ông nên nhớ kỹ, các ông nên:

+ Y theo giới luật làm thầy.

+ An trụ trong tứ niệm xứ.

+ Gặp người hung ác mặc tẫn (im lặng), lánh đi.

+ Căn cứ  theo T Y  PhápTam Pháp n để hiểu đúng, đầu đề kinh tất cả đều ghi: “Như Thị Ngã Văn’ sẽ khiến người tin được. Các ông nên làm đúng như pháp, pháp là nơi thường trụ của pháp thân ta.

    T Y Pháp :

* Bản dịch cổ : 1- Y pháp bất y nhân ; 2- Y nghĩa bất y lời ; 3- Y nghĩa bất y bất liễu nghĩa ; 4- Y trí bất y thức.

1- Y Pháp bt quy Nhân: Đúng Pháp chứ không bị cuốn theo người.

2- Y Lý bt quy Lun:Đúng chân lý chứ không bị cuốn theo đủ thứ luận điểm, lời lẻ xa vời thực tế.

3- Y Liu Nghĩa bt quy Huyn Nghĩa: Đúng nghĩa chính rõ ràng là sự cứu cánh giải thoát chứ không bị cuốn theo những nghĩa hảo huyền tôn tạo.

4- Y Trí bt quy Thc: Đúng với Trí sáng suốt nhận ra lẽ thật của vạn pháp chứ không bị cuốn theo những hình thức bề ngoài.

     Tam Pháp n:

1* Chư Hành Vô Thường Ấn

2* Chư Pháp Vô Ngã Ấn

3* Niết Bàn Tịnh Tĩnh Không Ấn

“Đây là phương tiện tu hành của hành giả, tức BA PHÁP QUÁN. Nếu các chúng sinh tinh tấn siêng tu tập sao cho thông suốt thấu quán ba pháp này được hoàn toàn, tức là Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy.” – Kinh Viên Giác tr. 176

Thế Tôn nói xong, mọi người nghe rồi lại cảm động, lại thương tâm. Tiếng nói ấy uy nghiêm làm sao. Thế Tôn vào Niết-bàn ngay khi ấy.

Kinh kim cang :

“Ưng sanh vô sở trụ tâm, nhược tâm hữu trụ tức vi phi trụ – nên không có chỗ trụ mà sanh  tâm thanh tịnh, bằng tâm có chỗ trụ tức chẳng phải trụ chỗ chơn như thanh tịnh vậy”

Phật pháp được phát triển rất rộng rãi từ thời Đức Phật thành đạo cho đến thời vua A Xà Thế. Nhưng sau khi Đại Ca Diếp nhập diệt thì về sau hàng đệ tử thân cận với Đức Thế Tôn chỉ còn lại A Nan mà thôi. Tôn giả tuy lãnh đạo tăng đoàn nhưng tuổi tác mỗi năm mỗi cao. Một hôm nọ trên đường đi, lúc đó tôn giả đã 120 tuổi, Ngài nghe một thầy tỳ kheo trẻ tụng bài kệ rằng:

Nếu người sống trăm tuổi,
Không thấy thủy lão hạc.

Chẳng bằng sống một ngày,
Mà được thấy hạc ấy.

A Nan nghe qua, thấy bài kệ bị tụng sai lầm một cách tệ hại như râu ông nọ cắm cằm bà kia, nên tôn giả bèn lập tức cải chánh. Bài kệ phải tụng như thế này:

Nếu người sống trăm tuổi,
Không hiểu pháp sanh diệt.

Chẳng bằng sống một ngày,
Mà được hiểu rõ ràng.

Thầy tỳ kheo kia nghe A Nan dạy xong liền trở về thưa lại với sư phụ, chẳng dè sư phụ của thầy nổi sùng nói rằng:

– Ông đừng nghe A Nan nói bậy, năm nay A Nan đã quá già thành ra lú lẩn. Ta dạy ông không sai đâu.

Thầy tỳ kheo trở lại đem lời sư phụ nói lại với A Nan. Tôn giả định đi tìm ông ta để hỏi tại sao lại nói những lời ngu si như vậy? Nhưng suy đi nghĩ lại thì con người đã thốt ra lời ấy có nói chưa chắc đã chịu nghe, nên thôi. Một vị trưởng lão ôn hòa như A Nan, một vị thống lãnh giáo đoàn đương thời và nắm trong tay giáo quyền tối thượng mà vẫn áp dụng lối xử sự nhún nhường [mặc tẫn (im lặng), lánh đi].

Tuy vậy, một bậc trưởng lão thánh tăng đã 120 tuổi thì việc đời không còn chút lưu luyến, nhưng sau khi gặp chuyện trên lại càng chán ngán cho thế gian. Đức Thế Tôn nhập diệt chưa bao lâu mà có người đã hiểu sai Phật pháp cho nên sau nầy trong giáo đoàn sẽ có những điều tà kiến thì làm sao tránh khỏi. Ta vì Phật tụng lại giáo pháp mà mọi người lại chấp chặt vào kiến chấp của họ chứ không chịu theo đúng pháp mà làm. Vậy ta còn ở lại nơi đây để làm gì?

Nghĩ ngợi như vậy khiến tôn giả tự nhiên nhớ đến Đức Phật, rồi liên tưởng đến các vị đại đệ tử Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên…Càng nhớ lại ngày xưa làm tôn giả càng suy tư triền miên “Ôi! Những vị ấy, như chim bay theo gió, một lúc mà tất cả đã vào cõi thánh. Trong bao nhiêu vị thánh bây giờ chỉ còn mình ta, như rừng cây bị đốn sạch chỉ còn sót lại một cây cổ thụ không đủ che mưa đỡ gió. Cõi nhân gian nầy thật trống rỗng, đã đến lúc ta nhập diệt mà thôi.”

3.     XÁ-LỢI-PHẤT – TRÍ HUỆ ĐỆ NHẤT

Xá-lợi-phất (zh. 舍利弗, sa. śāriputra, pi. sāriputta), cũng được gọi là Xá-lợi tử, “con trai của bà Xá-lợi (śāri). Xá-lợi-phất xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn, thành Vương Xá (Rajagrha – Rjagaha) là kinh đô của vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha), ở miền Nam Ấn Độ. Cách thành này chừng vài dặm, có một thôn trang tên là Ca La Tí Noa Ca (Nalaka), rừng trúc xinh tươi, non xanh nước biếc, cảnh trí thật là u nhã. Đó là quê hương của tôn giả Xá Lợi Phất, vị đệ tử có trí tuệ lớn của đức Phật.. Thân phụ của tôn giả đã từng là một luận sư nổi tiếng của đạo Bà la môn. Sau khi Phật ngộ Đạo, Xá-lợi-phất cùng bạn thân là Mục-kiền-liên (sa. mahāmaudgalyāyana, pi. mahāmoggallāna) gia nhập Tăng-già và mang danh hiệu là “Trí huệ đệ nhất”.

Khi lên tám tuổi, Xá Lợi Phất đã làu thông kinh sử. Lúc bấy giờ, ở nước Ma Kiệt Đà có hai anh em Cát Lợi và A Già La, đều là hàng trưởng giả. Một hôm, họ thết tiệc lớn khoản đãi quốc vương, thái tử, các vị đại thần, cùng các vị luận sư. Trong phòng bày tiệc, tất cả chỗ ngồi của khác đều được qui định rõ ràng, tùy theo thân danh và địa vị từng người; thế mà cậu bé tám tuổi Xá Lợi Phất kia, không biết sợ sệt ai hết, đã dám ngang nhiên leo lên chỗ ngồi cao quí dành có các vị luận sư để ngồi. Lúc đầu, các vị đại thần và luận sư thấy thế thì cứ cho Xá Lợi Phất vì còn là con nít không biết gì, cho nên không thèm nói năng gì tới. lại còn cho đám đệ tử trẻ tuổi của họ đến chơi với cậu; nhưng một lúc sau, nghe cách nói năng của Xá Lợi Phất rất là khác thường, ngôn từ rõ ràng, khúc chiết, nghĩa lí tinh tường, rành mạch, thì các quan đại thần, các vị đại luận sư đều lấy làm kinh ngạc, khen ngợi và bái phục, riêng quốc vương thì vô cùng hoan hỉ, liền truyền lịnh lấy ngay một thôn trang thưởng cho Xá Lợi Phất. Cậu thần đồng tám tuổi ấy thật đã làm rạng rỡ cho gia đình, và chính ngay thân phụ của cậu, vốn là một danh gia đương thời, cũng phải công nhận rằng sự thông minh tài trí của ông không thể sánh kịp với đứa con cưng quí của mình.

Xá Lợi Phất lớn lên, trở thành một thanh niên cao lớn, nét mặt thanh tú, đôi mắt có thần, tay dài quá gối, được di truyền của thân phụ, cho nên cũng có cái phong độ của một nhà học giả trứ danh. Trong giới học thuật bấy giờ, không ai là không biết đến đại danh của chàng thanh niên “hậu sinh khả úy” đó.

Năm hai mươi tuổi, Xá Lợi Phất xin phép song thân đi du phương học đạo, tìm cầu chân lí. Đầu tiên, chàng đến xin học với một thầy Bà la môn tên là San Xà Da (Sanjavairattiputra – Sanjayabelatthiputta). Một thời gian sau, vì thấy San Xà Da không đủ khả năng làm thỏa mãn ước vọng của chàng, Xá Lợi Phất lại muốn từ giã thầy để đi nơi khác.

Lúc bấy giờ, trong số bạn học, có một thanh niên tên Mục Kiền Liên (Maudgalyayana – Moggallana), là người bạn tri kỉ duy nhất của chàng. Chàng bèn nói ý tưởng của mình cho Mục Kiền Liên biết, và Mục Kiền Liên cũng có ý tưởng giống như vậy. Hai người liền quyết định rời học viện của San Xà Da và tự mình chiêu tập đồ chúng để lập nên một học viện mới. Cả hai người đều tự cho rằng, trên thế gian không còn ai thông minh tài trí hơn họ, cho nên không còn ai có đủ tư cách và khả năng xứng đáng để làm thầy họ nữa.

Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, không những tuổi tác xấp xỉ bằng nhau, mà tư tưởng và trình độ học vấn cũng không khác nhau mấy. Cả hai người cùng có chí nguyện quyết tìm cầu chân lí. Họ thương kính nhau, ở cùng nhau, và cư xử với nhau thật vô cùng hòa hợp. Từ đây, họ chỉ cùng học hỏi với nhau và dạy dỗ đồ chúng ở trong học viện, ngoài ra, trong toàn cõi Ấn Độ, họ không còn thấy có bất cứ nhà học giả nào đáng kể dưới mắt họ. Cho đến một hôm Xá Lợi Phất bỗng nhìn thấy thầy A Thị Thuyết (hay A Thuyết Thị, A Xả Bà Thệ, Át Bệ, Asvajit – Assaji, là một trong năm vị tì kheo đầu tiên xuất gia làm đệ tử Phật, đã từng nhiều năm tu khổ hạnh, đến khi được nghe Phật dạy về giáo lí “Bốn Sự Thật” thì chứng quả thánh) trên một đường phố trong kinh thành Vương Xá …

Dáng vẻ của thầy A Thị Thuyết trông trang nghiêm làm sao. Mỗi cử chỉ đi, đứng của vị tì kheo ấy đều tỏ rỏ oai ghi tế hạnh. Thoạt nhìn thấy, Xá Lợi Phất bỗng cảm thấy tâm hồn rúng động. Thật kinh ngạc, thật kì lạ, không thể tả được! Không dằn được thắc mắc Xá Lợi Phất liền bước đến trước mặt A Thị Thuyết, chào hỏi một cách cung kính:

– Xin lỗi ngài cho tôi hỏi thăm, ngài tên là gì và đang cư ngụ tại đâu?

A Thị Thuyết trả lời:

– Xin cám ơn ngài đã hỏi thăm. Tôi tên là A Thị Thuyết đang cư ngụ tại tu viện Trúc Lâm (Venevana – Veluvana) ở phía ngoài kinh thành cách đây không xa lắm. (Có thuyết nói rằng, lúc Xá Lợi Phất gặp đại đức A Thị Thuyết thì tu viện Trúc Lâm chưa được xây cất; đức Phật và chúng tăng đang cư trú trong một khu rừng ở ngoại ô phía Nam thành Vương Xá – Chú thích của người dịch).

– Bậc tôn sư của ngài là ai? Và thường dạy ngài những đạo lí gì?

– Thầy tôì là người thuộc dòng họ Cồ-đàm, người ta thường gọi người là Phật Cồ-đàm Mâu Ni. Ngài thường dạy cho chúng tôi về chân lí của vũ trụ và nhân sinh, mà kẻ trí óc cạn cợt như tôi thì không thể nào hoàn toàn lãnh hội hết được. Giáo lí Thầy tôi thường giảng dạy mà tôi ghi nhớ nhiều nhất là như vầy:

A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ trứ danh, sau được gọi là “Duyên khởi kệ”:

Dịch nghĩa :

Nhược pháp nhân duyên sinh

Pháp diệc nhân duyên diệt

Thị sinh diệt nhân duyên

Phật Đại sa-môn thuyết.

Các pháp do nhân duyên sinh

Cũng theo nhân duyên diệt

Thấy nhân duyên sinh diệt này

Phật giảng cho đại chúng môn đồ.

Xá Lợi Phất cảm thấy như trời long đất lở khi vừa nghe được danh xưng “đức Phật” cùng giáo pháp của Ngài do từ miệng thầy A Thị Thuyết nói ra. Như ánh sáng chói lòa của mặt trời chiếu ngay trước mắt, bao nhiêu đám mây nghi ngờ về các vấn đề vũ trụ nhân sinh tích tụ từ trước đến nay bỗng dưng đều được quét sạch. Hai người đi với nhau thêm một quãng đường để đàm đạo. Đi bên cạnh vị tì kheo vừa mới gặp lần đầu mà Xá Lợi Phất cảm thấy như là bạn tâm giao đã lâu đời. Sau đó, Xá Lợi Phất xin cáo từ, và hứa với A Thị Thuyết thế nào cũng sớm đến tu viện để xin yết kiến đức Phật.

Xá Lợi Phất bương bả trở về học viện. Mục Kiền Liên xem thấy thần sắc Xá Lợi Phất sao mà khác thường, nét vui mừng hớn hở lộ ra trên mặt bạn hôm nay thật chưa từng thấy bao giờ! Bèn hỏi dò:

-Xá Lợi Phất! Sao? Có việc gì hứng thú lắm mà hôm nay trông bạn vui vẻ quá vậy?

– Mục Kiền Liên! Tôi mừng quá! Trong đời, đây là lần đầu tiên tôi thấy cao hứng như vậy! Này, tôi nói cho bạn biết nhé, tôi đã tìm thấy bậc tôn sư của chúng mình rồi! …

Mục Kiền Liên trố mắt:

– Này, đứng nói như vậy, trên đời này lại còn ai có thể làm thầy chúng ta nữa chứ!

– Có chớ, có! Đó là đức Phật! Tôi xin nhắc lại, đó là đức Phật!

Rồi Xá Lợi Phất đem tất cả những gì đã nghe được từ thầy A Thị Thuyết về đức Phật và giáo pháp của Ngài, nói lại cho Mục Kiền Liên nghe. Hai người bạn, một người thuật và một người nghe, trong giây phút quí báu ấy, đều vô cùng vui sướng.

Pháp “nhân duyên”, người thường nghe đến thì không hiểu là gì, nhưng khi lọt vào tai của một người có trí tuệ và đang tìm cầu chân lí như Xá Lợi Phất thì khác hẳn. Ông cảm thấy như công phu tụ học của mình trong bao nhiêu năm qua đều trở thành rỗng tuếch. Điều đó không sai, bởi vì, chỉ có người nào thấy rõ được “nhân duyên” thì mới thấy rõ được Phật pháp.

Liền ngày hôm sau, Xá Lợi Phất đã cùng Mục Kiền Liên, dẫn theo hai trăm đồ chúng của họ, cùng đến tu viện Trúc Lâm xin xuất gia theo Phật. Đức Phật rất hoan hỉ, vì biết rằng, từ ngày thành đạo, đến nay mới có được hai người đệ tử đích thực có khả năng, có thể tiếp thọ chân lí do mình truyền đạt; trong khi đó thì Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng biết chắc chắn rằng, cho đến hôm nay mình mới đích thực có được bậc Thầy chân chính. Khoảng hai tuần sau khi trở về với Phật, Xá Lợi Phất Chứng quả A La Hán.

Trong hàng ngũ Tăng đoàn, một đức tính làm cho tôn giả Xá Lợi Phất được tất cả đồ chúng của Phật yêu kính, là Ngài biết tôn trọng ý kiến của mọi người. Ngài không bao giờ tự cho là trí tuệ đệ nhất để áp đảo kẻ khác bằng lý luận. Trong những cuộc luận đàm tôn giả thường hỏi ý kiến từng người, để họ tự do phát biếu, và khi có sự bất đồng Ngài rủ mọi người cùng đi đến yết kiến Phật để xin đức đạo sư giải quyết, chứ không bao giờ tự cho ý kiến mình đúng, thiên hạ đều sai.
Kinh Trung bộ III kể, vào một đêm rằm trăng sáng chiếu xuống khu vườn cây sala nơi tôn giả đang trú ngụ. Ðêm khuya, trăng tỏ, hương hoa đang mùa rộ nở cùng với sương đêm tỏa ngát không gian. Cảnh thật xứng với người: một cuộc hội kiến giữa các bậc thượng thủ đến thăm tôn giả Xá Lợi Phất. Tôn giả mở màn cho cuộc pháp thoại bằng một câu hỏi, cũng vừa là một lời chào:
– Ðêm thanh, trăng tỏ, vườn sa la khả ái thơm nức một mùi hương như thiên giới. Chư hiền nghĩ sao, vị tỳ kheo nào, theo ý kiến chư hiền, sẽ là người làm sáng chói khu vườn? (tức một mẫu tỳ kheo lý tưởng trong Phật giáo phải như thế nào?)
Tôn giả A nan đáp:
– Theo tôi, một vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn là vị nào đa văn đệ nhất.
Tôn giả Ca Diếp:
– Vị tỳ kheo sáng chói khu vườn là vị trì khổ hạnh đầu đà đệ nhất.
Tôn giả Mục Kiền Liên:
– Tôi thì cho rằng vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn, chính là vị nào thành tựu thần thông bậc nhất.

Tôn giả Ly Bà Da:
– Ý kiến tôi thì, vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn phải là người thiền định bậc nhất.
Khi tất cả mọi người đều cho ý kiến, Tôn giả Mục Kiền Liên giục bạn:
– Hiền giả nghĩ sao? Ý kiến của người nào đúng? Và ý hiền giả như thế nào về một vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn?
Tôn giả Xá Lợi Phất đáp:
– Vị tỳ kheo nào chế phục được tâm, không bị tâm chế phục. Vị tỳ kheo nào, buổi sáng muốn trú tâm như thế nào, có thể an trú tâm như thế ấy vào buổi sáng. Buổi trưa vị ấy muốn an trú tâm thế nào, vị ấy cũng có thể làm như ý muốn vào buổi trưa. Buổi chiều, buổi tối cũng vậy.
Như một vị vua hay đại thần có một tủ đầy áo đẹp, và sáng muốn mặc cái áo nào, trưa muốn mặc cái nào, chiều muốn mặc cái nào, đều có thể làm theo ý muốn của mình. Cũng thế, đối với một vị tỳ kheo đã chế phục được tâm ý, không bị tâm chế phục. Một vị tỳ kheo như thế, này hiền giả, sẽ làm sáng chói khu rừng sa la khả ái này. Nhưng này chư hiền, chúng ta hãy đi đến đảnh lễ Ðấng Ðạo sư để thỉnh giáo về vấn đề này.
Khi đức Phật nghe thuật lại ý kiến của từng vị, Ngài dạy rằng mọi người đều trả lời đúng theo địa vị và khả năng của mình. Tuy nhiên Ngài thêm ý kiến của Ngài như sau:
– Vị tỳ kheo sáng chói khu vườn chính là vị nào sau khi đi khất thực về, sau khi chánh niệm thọ thực xong, rửa chân rồi trải tọa cụ ngồi thiền cho đến khi nào không còn lu hoc móng khi.

Ðiểm lý thú trong kinh này là ở chỗ khi mới nghe qua, chúng ta thấy dường như mỗi vị tự đề cao cá nhân, song kỳ thật không thế. Mỗi người phát biểu cái lý tưởng mình muốn đạt, cho nên ngài A Nan, con người ưa đa văn, tôn trọng học vấn, đương nhiên phải cho đa văn là nhất. Ngài Ca Diếp thì cho hạnh đầu đà là lý tưởng của xuất gia, nên ngài mới chuyên môn hạnh ấy. Mục Kiền Liên yêu thích biện tài, muốn phát triển mặt ấy, nên cho rằng thành tựu biện tài là nhất. Ly Bà Ða chú trọng thiền định cũng thế, vì cho thiền định là lý tưởng. Câu đúc kết của Phật rất ý vị ở chỗ, cái điều Ngài cho là lý tưởng chính là những việc làm rất thường, không có gì quái dị phức tạp, thế mà lại rất khó, chỉ có Phật mới thành tựu trọn vẹn được. Ðó là những việc như ăn cơm, mặc áo, rửa chân, trải tọa cụ ra ngồi… những việc Phật làm khi mở đầu kinh Kim Cương. Như vậy, ta thấy rõ Phật muốn ám chỉ đạo là rất giản dị, đó là cái tâm bình thường (bình thường tâm thị đạo); nhưng đồng thời, quả thật cái việc “thường” ấy lại khó khăn gấp bội những việc “phi thường” của các bậc đa văn, biến tài, trí tuệ.

Tôn giả Xá Lợi Phất lại còn một đức tính khác thu hút tất cả những bậc đồng phạm hạnh, ấy là khiêm tốn và hâm mộ những tài đức khác. Kinh Trạm xe (Trung Bộ II) kể, có vị tôn giả là Phú Lâu Na được Phật và chúng tỳ kheo ở chung luôn tán thán về giới hạnh không thiếu sót, yêu thích độc cư, tinh tấn, tri túc, thiểu dục, đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến và là người thường khuyến khích người khác tu những hạnh kể trên. Khi nghe như vậy tôn giả Xá Lợi Phất vô cùng hoan hỉ mong muốn có ngày sẽ gặp được Tôn giả. Một hôm Phú Lâu Na đến yết kiến Phật và lui về ở một nơi lân cận. Các vị tỳ kheo báo tin cho ngài Xá Lợi Phất biết để đi thăm. Ðến nơi, tôn giả bắt đầu hỏi chuyện:
– Hiền giả, hiền giả vì mục đích gì mà sống phạm hạnh dưới đức Ðạo sư? Phải chăng vì mục đích thành tựu giới thanh tịnh?
– Không phải vậy, hiền giả.
– Vì mục đích kiến thanh tịnh?
– Không phải vậy, hiền giả.
– Vì mục đích đoạn nghi thanh tịnh?
– Không hiền giả.
– Vì mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
– Cũng không, hiền giả.
– Khi ấy tôn giả Xá Lợi Phất nói:
– Hiền giả, tôi hỏi cái gì hiền giả cũng đáp không phải vì mục đích ấy mà hiền giả sống phạm hạnh. Vậy thì, hiền giả sống phạm hạnh vì mục đích gì?
– Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Niết bàn.
Xá Lợi Phất hỏi tiếp:
– Có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Niết bàn?
Phú Lâu Na đáp không. Hỏi tâm thanh tịnh, cũng đáp không, lần lượt hỏi bảy thanh tịnh, cũng đáp không phải là vô thủ trước Niết bàn. Khi ấy, Xá Lợi Phất lại hỏi:
– Trong bảy thanh tịnh, hiền giả đều nói không có cái gì là vô thủ trước Niết bàn, nghĩa là làm sao?
Phú Lâu Na đáp:
– Hiền giả, nếu Thế tôn dạy giới thanh tịnh là vô thủ trước Niết bàn thì vô thủ trước ấy cũng đồng đẳng với hữu thủ trước (chấp vào giới), về sáu thanh tịnh kia cũng vậy. Và nếu Thế tôn dạy cái gì ở ngoài bảy pháp ấy là vô thủ trước Bát Niết bàn, thì kẻ phàm phu cũng gọi là Bát Niết bàn, vì phàm phu không có bảy pháp ấy. Hiền giả, tôi lấy một ví dụ. Như vua Ba Tư Nặc đi xe từ Xá Vệ đến Saveta qua bảy trạm xe. Khi vua đến nơi bằng chiếc xe của trạm thứ bảy, đình thần ra đón và hỏi có phải nhờ chiếc xe này mà vua đi từ Xá vệ đến hay không. Khi ấy vua phải trả lời thế nào mới đúng?
Xá Lợi Phất đáp:
– Dĩ nhiên vua phải nói, đã đi từ trạm xe thứ nhất đến trạm xe thứ hai bằng một cỗ xe khác, lần lượt đổi xe ở mỗi trạm cho đến cỗ xe cuối cùng này.
– Hiền giả, cũng như vậy với bảy thanh tịnh. Giới thanh tịnh chỉ có mục đích đạt được tâm thanh tịnh (kiến thanh tịnh), tâm thanh tịnh là để đạt đến đoạn nghi thanh tịnh, đoạn nghi thanh tịnh là để đạt đến đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến đạo tri kiến thanh tịnh, đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh là để đạt đến vô thủ trước Bát Niết bàn thì ắt nhập Niết bàn.
Nghe xong tôn giả Xá Lợi Phất hỏi tôn giả Phú Lâu Na:
– Tôn giả tên gì? Các vị đồng phạm hạnh gọi tôn giả như thế nào?
– Tên tôi là Phú Lâu Na, các bạn gọi tôi là Di Ða La Ni Tử.
– Thật vi diệu thay, hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được một bậc đệ tử đa văn của Ðấng Ðạo sư giải, và vị ấy là tôn giả Phú Lâu Na. Thật hạnh phúc cho chúng tôi được thân cận thăm viếng Tôn giả.
Khi ấy, tôn giả Phú Lâu Na hỏi lại:
– Còn hiền giả tên chi, các vị đồng phạm hạnh gọi hiền giả như thế nào?
– Tên tôi là Tích Sa, các vị đồng phạm hạnh gọi tôi là Xá Lợi Phất.
Một bất ngờ kỳ thú! Tôn giả Phú Lâu Na muốn bật ngửa người vì ngạc nhiên, không ngờ nãy giờ mình đã múa rìu qua mắt thợ! Nhưng ông thợ này quá khiêm tốn dễ thương. Ngài Phú Lâu Na ngợ đi một một hồi mới bảo:
– Tôi đang nói chuyện với bậc đệ tử được xem ngang hàng với đức Ðạo sư mà không biết! Nếu tôi biết Ngài là Tôn giả Xá Lợi Phất, thì tôi đã không nói nhiều như vậy.

ĐỨC HẠNH NHẪN VÀ NHƯỜNG

Xá-lợi-phất đối với giáo pháp của đức Phật luôn tôn kính và phụng trì, đối với việc bố giáo chưa từng thoái chí, chỉ đối với riêng mình thì vinh nhục khen chê đều chẳng lưu tâm, thảy đều nhường nhịn.
Có một hôm, đức Phật dẫn đại chúng đi bố giáo và trở về thành Xá-vệ, lúc đó nhóm đồ đệ của Lục Quần Tỳ-kheo, đã nhanh chân đến Kỳ Hoàn tinh xá trước đức Phật và đại chúng, chiếm luôn những chỗ nghỉ ngơi tốt đẹp, ngay cả cư thất của Xá-lợi-phất cũng bị chiếm. Họ lại nói: Chỗ này là chỗ của thầy chúng ta, chỗ này là chỗ của chúng ta.
Xá-lợi-phất về sau đức Phật, ngày đó vì hơi chậm chân, khi về đến tinh xá thấy chỗ của mình bị Lục Quần Tỳ-kheo đã ở trước, không còn cách nào khác, Tôn giả bèn ra gốc cây ngồi thiền qua đêm. Sáng sớm, đức Phật dậy, nghe dưới gốc cây có tiếng ho hen, Ngài bèn hỏi :

– Ai ở đó? Sao không tịnh tọa trong phòng?
Xá-lợi-phất thưa:
– Bạch Thế Tôn! đệ tử là Xá-lợi-phất, vì hôm qua có rất nhiều Tỳ-kheo theo Phật về tinh xá, tất cả phòng đều có người, con tạm ngủ dưới gốc cây một đêm cũng không sao.
Đức Phật nghe xong rất khen đức tốt nhẫn nhượng của Tôn giả, rồi nhóm các Tỳ-kheo lại giáo hoá:

– Này các Tỳ-kheo! tôi hỏi các ông, trong giáo đoàn ta, người như thế nào xứng đáng được trân trọng?

Các Tỳ-kheo ồn ào bày tỏ ý kiến:

– Đó là Tỳ-kheo xuất thân từ dòng vua chúa!
– Đó là Tỳ-kheo xuất thân từ dòng giáo sĩ!
– Tỳ-kheo nào tu hành và có khả năng bố giáo mới xứng đáng được ưu tiên trân trọng sàng tòa, nước và thực phẩm!

Sau khi nghe các câu trả lời lung tung, đức Phật nghiêm nghị bảo:
– Các Tỳ-kheo! Thuở xưa tại núi Tuyết có chim chá cô, con khỉ, con voi đồng ở chung. Tuy chúng là bằng hữu, nhưng vì thân thể, sức lực và trí khôn của mỗi con không đồng nhau, nên mạnh ai nấy tự cao tự đại, không tôn kính lẫn nhau. Sau biết như vậy là sai trái, mới cung kính và nghe lời răn dạy của loài lớn tuổi, đến khi thân hoại mạng chung, chúng đều sanh vào đường lành.

Các Tỳ-kheo! Các ông phải tôn kính bậc niên lão về pháp hạnh, hiện tại được người khen ngợi, về sau mới được sanh chỗ lành. Này các Tỳ-kheo! Trong giáo pháp ta không có giai cấp cao thấp, nhưng có bậc trưởng lão về pháp lạp và giới lạp, các ông cần phải cung kính, trân trọng kính nhường mới phải đạo có đúng không?..

Đức Phật nói như thế, đại chúng đều hiểu ý, Xá-lợi-phất rất cảm kích, đại chúng cũng rất cảm kích.

LÒNG KHOAN DUNG RỘNG RÃI

Tuổi tác của Xá-lợi-phất theo luật vô thường năm tháng gia tăng, Ngài đến lúc là một bậc cao niên tám mươi tuổi. Năm ấy, sau mùa an cư ở Kỳ Viên, vì việc hoằng pháp độ sanh, Ngài không nề tuổi già, không từ lao khổ, thỉnh cầu đức Phật cho phép Ngài đi du phương hóa đạo. Phật hứa khả và rất khen ngợi tinh thần vì người, vì giáo lý của Xá-lợi-phất.

Tôn giả rời tịnh xá không bao lâu, có một Tỳ-kheo đến bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Xá-lợi-phất đi vân du hôm nay không phải vì tuyên dương Phật pháp, mà vì ông ấy đã làm nhục đệ tử, gặp mặt đệ tử thấy hổ thẹn muốn tránh mặt nên mới kiếm chuyện đi phương khác.

Đức Phật không đồng tình kẻ phỉ báng người vắng mặt, nghe xong lập tức sai người mời Xá-lợi-phất trở lại, và ở trước đại chúng, Phật nghiêm nghị hỏi Xá-lợi-phất:

– Xá-lợi-phất, sau khi ông đi không lâu, có một Tỳ-kheo đến mách với ta rằng ông đã khi dể, nhục mạ ông ấy, có thật vậy không?

Xá-lợi-phất ôn hòa cung kính thưa:

– Bạch Thế Tôn! Từ khi đệ tử theo Ngài đến nay, nay là gần tám mươi tuổi, đệ tử hằng nhớ mình chưa từng sát hại sinh mạng, chưa hề nói lời hư vọng, cũng chưa từng nói chuyện riêng tư lợi hại được mất của người, cùng người bàn tán tốt xấu. Hôm nay là ngày tốt sau của an cư, trong ba tháng qua, mỗi ngày đệ tử đều sám hối, không rời chánh niệm, tâm đệ tử trong lặng, không có một vẻ bất bình, thì làm sao khinh thị người khác được ư?

Bạch Thế Tôn! Đất bùn hay nhẫn nhục, bất cứ vật gì nhơ uế đổ lên, đất không cự tuyệt. Phân tiểu, máu mủ, đờm dãi đất đều cam thọ cũng như kẹo ngon. Tâm đệ tử hôm nay bộc bạch trước đức Thế Tôn, nguyện như sức nhẫn nhục của đại địa, nguyện không trái nghịch ý người.

Dòng nước thanh tịnh, không kể vật sạch dơ hay cũ mới đều dùng nước để rửa sạch. Tâm con không yêu ghét, cũng như dòng nước.

Bạch Thế Tôn! Cây chổi dùng để quét bụi, khi quét dọn không chọn lựa tốt xấu, tâm đệ tử hôm nay thật là không hề khởi phân biệt tốt xấu. Đệ tử ở trong chánh niệm, quyết không hề khinh tiện vị Tỳ-kheo kia, đệ tử đối Phật mà nói lời này, luôn biết việc làm của mình, Tỳ-kheo kia cũng biết việc làm của vị ấy. Như nếu đệ tử có lỗi, đệ tử xin hướng về Tỳ-kheo ấy sám hối để tâm mình khỏi bị cắn rứt.

Vị trưởng lão gần tám mươi tuổi, đã đối trước Phật cáo bạch mọi việc như thật, đại chúng nghe qua đều cảm động.
Phật bảo ông Tỳ-kheo vu cáo kia:

– Ông có lỗi hủy báng trưởng lão, bây giờ không thể không sám hối. Ông đã có ý khiến Tăng đoàn phân vân, nghi vấn, ông chẳng muốn cho Tăng đoàn hòa hợp. Nếu như ông không chí thành sửa đổi, sẽ bị khổ báo vô cùng!

Tỳ-kheo kia vội vàng quỳ trước Phật ai cầu sám hối:

– Bạch Thế Tôn! Tôn giả Xá-lợi-phất là người không lỗi chi, đệ tử đối với bậc Trí tuệ năng lực như thế mà không biết nhún mình học tập, lại sanh tật đố kị, xin Phật từ bi thương xót, cho đệ tử cơ hội đầu tiên sám hối.

Đức Phật trang nghiêm từ hòa bảo:

– Ông hãy đến sám hối Xá-lợi-phất.

Tỳ-kheo ấy phủ phục cúi đầu quỳ trước Xá-lợi-phất, Tôn giả bèn để tay lên đầu ông mà từ tốn nói:

– Tỳ-kheo! Trong giáo pháp của Phật, sám hối có sức mạnh vô cùng. Làm người ai không khỏi lầm lỗi? Biết lỗi liền sửa, đó là việc lành rất lớn. Tôi nhận sự sám hối của ông, từ đây về sau đừng tái phạm. Hãy cùng nhau trợ duyên cho tăng đoàn ngày càng phát triển rộng rãi khắp đại chúng, cùng nhau tinh tấn tu học theo đúng giáo pháp mà  đức Thế tôn đã truyền giảng.

Thái độ và lời nói của Xá-lợi-phất, ai nghe cũng cảm động. Lòng quảng đại, tâm bình đẳng của Tôn giả thật là không kể kẻ oán người thân.

4.     TU BỒ ĐỀ – GIẢI KHÔNG ĐỆ NHẤT

Trong kho tàng giáo lí của đức Phật, những phát biểu về vũ trụ nhân sinh đã chiếm một địa vị đáng kể, trong đó, có thể nói rằng, giáo lí Bát Nhã là quan trọng nhất. “Bát Nhã” là gì? Ta có thể giải thích một cách giản dị và đúng đắn nhất, đó là tuệ giác về tính KHÔNG.

Tính KHÔNG là một đạo lí huyền diệu, nói có đã không đúng mà nói không cũng không phải, vi nó thoát ra ngoài cặp ý niệm đối đãi có và không; không thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt, mà cũng không thể dùng trí suy nghĩ để hiểu được. Tăng đoàn của đức Phật có đến 1250 vị tì kheo chứng quả A La Hán, nhưng có thể nói, người hiểu thông suốt diệu lí KHÔNG hơn hết và thể chứng được diệu lí ấy, là tôn giả Tu Bồ Đề.

Khi còn niên thiếu, cậu bé Tu Bồ Đề đã có cách nhìn đời cũng như các đối xử với người thật là khác biệt, không giống như mọi người. Tuy sinh trưởng trong một gia đình giàu có, được cha mẹ nuông chìu cưng quí, nhưng cậu không để cho mình trở thành một kẻ nô lệ cho vàng bạc của cải. Bao nhiêu tiền bạc do cha mẹ cho, cậu đều tìm dịp để giúp đỡ cho những kẻ nghèo khó. Có lúc giữa đường thấy người ăn xin, áo không đủ che thân, cậu liền cởi ngay áo ngoài của mình tặng cho, còn cậu thì chỉ mặc áo lót quần cụt trở về nhà. Cha mẹ cậu tuy không phải là hạng người keo kiệt, nhưng thấy tác phong của con mình như vậy thì không bằng lòng, đã có lúc gọi cậu lại để trách mắng:

– Không Sinh! Con đã có những hành động không đúng! Tiền bạc của mình cứ đem cho người mà không cần cân nhắc; y phục đang mặc cũng cởi ra cho người, rồi để thân trần như vậy đi ngoài đường làm sao mà coi cho được!

Tu Bồ Đề cung kính thưa:

– Thưa cha mẹ! Chẳng biết vì nguyên nhân gì con cảm thấy từ thâm tâm rằng, tất cả những gì trên thế gian đối với con đều có mối quan hệ mật thiết, tất cả mọi người cùng với con như có đồng một thân thể. Người ta và con đâu có gì khác nhau, cho nên đem những gì của mình để cho người ta cũng đâu có gì là không đúng.

Nghe Tu Bồ Đề nói thế, cha mẹ cậu lại càng bực mình:

– Thằng này thật là kì cục! Có tiền mà không biết xài, có áo mà không biết mặc, lại còn nói ngông, chẳng sợ người ta cười cho. Từ nay về sau, nếu không sửa đổi thì sẽ nhốt trong nhà, không được ra khỏi cửa!

Nhưng Tu Bồ Đề đã không thể sửa đổi được cái “thiên tính” ấy được, vẫn tiếp tục giúp đỡ người khác, cho nên bị cha mẹ nhốt luôn trong nhà, không cho đi đây đi đó nữa.

Nhưng sự việc đó lại trở thành vận may cho cậu, vì nhờ dịp này cậu có thì giờ đọc và nghiền ngẫm tất cả những sách vở về triết học và tôn giáo hiện hành trên toàn lãnh thổ Ấn Độ; do vậy, cậu đã có một kiến thức thật rộng rãi về các vấn đề nhân sinh. Cậu thường lấy làm tự hào thưa với cha mẹ:

– Vạn tượng dầy đặc trong trong vũ trụ như đều hiện rõ trong tâm con, nhưng trong tâm con lại dường như trống rỗng, không hề có vật gì cả. Nếu trên thế gian này không có một bậc thánh đại trí đại giác thì ai cũng không đủ tư cách để cùng với con thảo luận về tâm cảnh của người giải thoát; ai cũng không thể thấy rõ được cái thế giới ở trong tâm con.

Tu Bồ Đề trẻ tuổi mà đã có những lời nói sâu xa! Cha mẹ cậu nghe thế lại nghĩ đến sự kì lạ ngày nào lúc cậu mới ra đời. Miệng của kẻ bất phàm không khỏi phải nói ra những lời bất phàm. Cha mẹ lấy làm sửng sốt, lạ lùng cho người con cưng quí của mình.

Lần nọ, đức Phật đến giáo hóa tại thôn xóm của Tu Bồ Đề. Người làng loan truyền cho nhau biết rằng đức Phật là bậc Nhất Thiết Trí, nói về trí tuệ thì trên thế gian này không ai có thể so sánh được.

Những lời bình luận trên rồi cũng đến tai Tu Bồ Đề; vả lại, chính cha mẹ chàng cũng theo người làng, cùng đến nghe đức Phật giảng giải.

Truyền thống tín ngưỡng của gia đình Tu Bồ Đề là Bà la môn giáo, nhưng bây giờ, tại sao cha mẹ lại theo người làng mà thay đổi tín ngưỡng một cách dễ dàng như vậy?  Đến lượt Tu Bồ Đề lại lấy làm lạ lùng về cha mẹ mình.

Một hôm, phụ thân gọi Tu Bồ Đề bảo:

– Không Sinh! Con thường tự cho mình có trí tuệ, hiểu rõ được chân lí đời người, nhưng theo cha thì đối với đức Phật, con vẫn còn thua rất xa. Đức Phật không những là bậc đại trí tuệ mà còn là bậc đại từ bi, lại là bậc đại thần thông nữa. Từ hôm đức Phật đến địa phương ta giáo hóa, hầu hết người làng đều theo Người nghe giảng. Cha định nay mai sẽ thỉnh Phật về nhà ta để cúng dường. Cha hi vọng rằng, lúc đó, ở trước mặt Người, tâm cuồng vọng của con sẽ tiêu mất.

Tu Bồ Đề vẫn tỏ vẻ không phục:

– Đức Phật trong con mắt của phụ thân là bậc nhất thiết trí, nhưng trong mắt của con thì ông ta cũng chỉ là người bình thường mà thôi.

Tuy ngoài miệng nói thế, nhưng trong thâm tâm, Tu Bồ Đề vẫn cảm thấy có điều gì thắc mắc, hơn nữa, cái “điều gì” đó còn làm cho chàng chấn động mạnh. Thật ra thì Phật là người như thế nào? Tu Bồ Đề tĩnh tọa, và khi tâm ý đã tĩnh lặng thì những bọt sóng lại cuồn cuộn nổi dậy trong lòng. Chàng suy nghĩ, nếu chờ đến khi đức Phật đến nhà thọ trai mới tương kiến, giả như lúc đó vì quá bận rộn mà Người không đến được thì sao! Cho nên, không thể chờ đợi được, ngay đêm hôm đó, chàng quyết định lén cha mẹ đến nơi Phật ngự để dò xét xem Người là người thế nào.

Đêm hôm đó trời trong gió mát, trăng thượng huyền treo tỏ rỏ trên không trung, muôn vì sao nhấp nhánh như có ý chế giễu chàng trai hiếu kì Tu Bồ Đề. Chàng một mình tìm đến chỗ Phật đang thuyết pháp. Lúc đó Ngài đang ngồi trên pháp tòa cao, bốn phía đèn đuốc sáng trưng. Hàng ngàn dân làng đang ngồi chung quanh pháp tòa, Chàng nhìn đức Phật. Tướng mạo của Người sao mà viên mãn quá! Trang nghiêm quá! Người đông thế mà yên lặng vô cùng, hình như chẳng có ai dám thở mạnh, chỉ có pháp âm của Phật là nghe rõ mồn một mà thôi. Chàng nghe Phật dạy:

” Mọi người chúng ta đều chung cùng một Bản thể. Bản thể ấy không phân biệt nhân và ngã. Tất cả vạn vật đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra. Không có một vật gì có thể tự nó tồn tại độc lập được. Ta và vạn pháp đã nương nhau mà tồn tại thì việc đem lòng từ bi và những ân huệ để bố thí cho chúng sinh, mới xem ra thì có vẻ như là vì người, mà thật ra thì chính ta cũng có được ích lợi lớn lao …”

“Với tất thảy các loài chúng sanh, hoặc loài sanh trứng, sanh con, sanh ẩm ướt, sanh bằng hóa, hoặc loài có sắc, không sắc, có tư tưởng, không có tư tưởng, loài chẳng phải có tư tưởng chẳng phải không có tư tưởng, ta đều khiến tất cả diệt độ vào Vô dư Niết bàn”. [“Sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại: nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hoá sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngã giai linh nhập vô dư Niết bàn nhi diệt độ chi…”.]

Pháp âm của đức Phật vô cùng từ hòa, êm dịu và những lời dạy của đức Phật vừa rồi càng làm cho Tu Bồ Đề cảm động. Từ trong đại chúng, chàng len lén chắp tay hướng lên đức Phật, tỏ lòng cung kính.

Sau buổi pháp thoại, đức Phật trở về tịnh thất được dọn sẵn để nghỉ ngơi. Tu Bồ Đề lén theo sau, muốn hội kiến với Phật mà không đủ can đảm, cứ đứng thập thò ở cửa tịnh thất.

Như thấu được tâm ý của Tu Bồ Đề, đức Phật lên tiếng:

– Vị nào đó? Xin mời vào phòng để chúng ta cùng nói chuyện.
– Bạch Thế Tôn! Dạ con đây! Con là Tu Bồ Đề, xin Thế Tôn thâu nhận cho con được theo làm đệ tử của Người.
– Thế à! Thì ra Tu Bồ Đề là ông. Ta nghe nói ông là một thanh niên thông tuệ nhất trong địa phương này. Tốt lắm, người thông tuệ thì mới có thể tin nhận và hành trì giáo pháp một cách chân chính. Vậy việc này song thân ông đã biết chưa?
– Bạch Thế Tôn! Con nghĩ rằng khi song thân con biết việc này thì sẽ vô cùng hoan hỉ. Con rất vinh hạnh được thờ Thế Tôn làm thầy.

Đức Phật hoan hỉ chấp nhận. Từ đó Tu Bồ Đề mặc áo cà sa và trở thành một đệ tử kiệt xuất trong tăng đoàn của đức Phật.

Tôn giả Tu Bồ Đề rất tinh tấn trong việc nghe pháp và tu tập. Bởi thế, trong 16 pháp hội Bát Nhã của đức Phật, trừ khi phải giáo hóa ở các nơi xa xôi, còn thì tôn giả không bỏ sót một pháp hội nào.

Một lần nọ, tại tu viện Kì Viên, đức Phật dự định nói kinh Kim Cang Bát Nhã. Tất cả chúng đệ tử, sau khi vào thành khất thực trở về, đều lần lượt ngồi xuống chung quanh đức Phật.

Lúc ấy Phật đang tĩnh tọa, mọi người cũng ngồi yên lặng, chưa ai dám lên tiếng hỏi điều gì. Bấy giờ, tôn giả Tu Bồ Đề, hiểu rõ được tâm ý của Phật, liền đứng dậy, trật vai áo bên phải, lạy Phật và thưa rằng:

– Bạch Thế Tôn! Tất cả chúng con đều biết rằng Thế Tôn rất khéo léo ái hộ chúng con, nhưng đối với các thiện nam tín nữ khi phát tâm bồ đề thì làm thế nào mới có thể an trú được? Và khi họ bị các vọng niệm quấy phá thì làm thế nào mới có thể hàng phục được? Xin Thế Tôn từ bi dạy bảo chúng con!

Đức Phật rất hoan hỉ đối với vấn đề tôn giả vừa nêu ra. Ngài dạy:

– Làm thế nào để an trú ở tâm bồ đề và không bị vọng niệm quấy phá ư? Này Tu Bồ Đề! Chính là trong khi bố thí, nên thực hành hạnh bố thí vô tướng; trong khi độ sinh, nên thực hành cách độ sinh vô ngã. Cứ theo cách thức ấy mà an trú, cứ theo cách thức ấy mà hàng phục vọng tâm.

    Vô tưng b thí, vô ngã đ sinh! Tu B Đ cht hiu rõ mt cách sâu sc li Pht va dy. Tôn giả vô cùng cảm kích pháp âm của Phật. Vui mừng đến độ chảy nước mắt, tôn giả quì xuống trước Phật, thưa rằng:

– Bạch Thế Tôn! Từ ngày con được làm người cho tới nay, đây là lần thứ nhất con được nghe giáo pháp cao sâu nhiệm mầu như vậy. Từ nay trở đi hai thứ chấp trước ngã và pháp đều không còn quấn chặt được con nữa. Tất cả bốn tướng trạng là ta, người, chúng sinh và sinh mạng cũng không thể trói buộc được con nữa. Phải xa lìa được mọi vọng tướng chấp trước mới có thể thấy được tính không. Phải trừ khử mọi ý niệm về danh, tướng mới có thể thấy được thực tại nhân sinh. Hôm nay con đã thể nhập được tâm ý của Phật, con đã thấy rõ được chính mình.

Sau lần khai ngộ này, tôn giả Tu Bồ Đề đã trở thành người đệ tử của đức Phật đứng đầu tăng đoàn về hiểu rõ tính không.

Một hôm tại pháp hội Bát Nhã, đức Phật bảo tôn giả Tu Bồ Đề:

– Này Tu Bồ Đề! Thầy đã thể hội được đạo lí chân không, lại có đầy đủ biện tài. Trong pháp hội hôm nay có sự hiện diện rất đông của chúng Bồ Tát, thầy hãy nói cho họ nghe về pháp “Tương Ưng Bát Nhã Ba La Mật” để họ bổ túc thêm cho sự học hỏi và cũng là để cùng nhau sách tấn việc tu tập.

Tất cả đại chúng đều biết rằng pháp môn Bát Nhã là pháp môn vô cùng sâu xa mầu nhiệm. Nay nghe đức Phật bảo thế thì họ đều tự hỏi rằng, Tu Bồ Đề sẽ dùng trí tuệ biện tài của chính mình hay thừa thọ uy lực của đức Phật để thuyết minh?

Tôn giả đã thấy rõ tâm ý ấy của đại chúng, bèn nói:

– Đã có từ mệnh của Phật, tôi đâu dám không tuân. Là đệ tử Phật, mỗi khi chúng ta thuyết giáo, bất luận là giáo pháp sâu hay cạn, nếu đáp ứng được hai điều kiện khế lí và khế cơ, là đều do thừa thọ huệ năng của Phật cả. Bởi vì, có thừa thọ huệ năng của Phật thì mới có thể khuyên người tu học, có thể thực chứng được bản tính của vạn pháp, có thể tương ưng với thật tướng của vạn pháp, cũng như có thể cảm thông được tâm ý của đức Phật. Hôm nay tôi cũng xin nương vào huệ năng của đức Phật để nói về pháp “Tương Ưng của Trí Tuệ Bát Nhã” của những người tu học đạo Bồ Tát.

Tôn giả lại đảnh lễ Phật và thưa rằng:

Bạch Thế Tôn! Vâng lời dạy của Thế Tôn, giờ đây con xin nói về pháp tương ưng giữa Bồ Tát và Trí Bát nhã. Nhưng pháp gì gọi là Bồ Tát, và pháp gì gọi là Bát nhã? Thật ra con không thấy có pháp nào gọi là Bồ Tát, cũng không thấy có pháp nào gọi là Bát nhã. Thậm chí cả cái danh xưng của hai pháp này, con cũng không thấy có gì khác nhau để phân biệt. Bạch Thế Tôn! Pháp tương ưng giữa Bồ Tát và Trí bát nhã là như thế. Xin Thế Tôn chỉ dạy cho, con nói như thế đã đủ để bổ túc cho sự tu học cho chúng Bồ Tát chưa?

Đức Phật hoan hỉ khai thị:

– Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ có cái danh xưng là Bồ Tát; Bát Nhã cũng chỉ có cái danh xưng là Bát nhã; ngay cả cái gọi là danh xưng của Bồ Tát và Bát nhã cũng chỉ có danh xưng mà thôi. Cái đó vốn không sinh không diệt, chẳng qua vì để tiện việc diễn nói mà phải tạm lập ra danh xưng. Cái giả danh ấy cũng không phải ở trong, không phải ở ngoài, cũng không phải là ở khoảng giữa của trong và ngoài; nó vốn là cái gì không thể nắm được (bất khả đắc). Cũng ví như nói ngã, đó cũng cũng chỉ là giả danh. Bản thể của ngã vốn không sinh không diệt. Tất cả các pháp hữu vi đều giống như giấc mộng, như tiếng vang, như bóng, như ảo, như trăng dưới nước.

– Mặc dù vậy, này thầy Tu Bồ Đề! B Tát Mun chng đt cái không sinh không dit, vn phi tu hc cái gi danh và gi pháp ca pháp B Tát và pháp Bát N.

 – Này thầy Tu Bồ Đề! Bồ Tát tu học pháp Bát nhã, Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là Thường hay Vô Thường, Vui (Lạc) hay Khổ, Ngã hay Vô Ngã, Không hay Bất Không, Hữu Tướng hay Vô Tướng, Hữu Vi hay Vô Vi, Dơ (Trược) hay Sạch (Thanh), Sinh hay Diệt, Lành (Thiện hay Ác), Hữu Lậu (bị ô nhiễm) hay Vô Lậu, Thế gian hay Xuất Thế gian, Luân Hồi hay Niết Bàn, đối với tất cả các pháp ấy đều không chấp trước, không phân biệt, và đối với tất cả các pháp khác nữa cũng đều như vậy.

-Này thầy Tu Bồ Đề! Vì sao Như Lai nói thế? Vì Bồ Tát khi tu học pháp Bát Nhã thì đối với tất cả vạn pháp không nên sinh tâm phân biệt mà phải an trú ở Tánh Không, an trú ở tính Bất phân biệt. Bồ Tát khi tu học sáu pháp Ba La Mật cùng các hạnh Bồ Tát khác cũng không thấy có danh xưng Bồ Tát, không thấy có danh xưng Ba La Mật. Bồ Tát chỉ cầu đạt được tuệ giác, thấy tất cả đều như tht tưng ca các pháp, và cái thật tướng ấy thì không dơ (Bất Cấu), không sạch (Bất Tịnh). Nếu Bồ Tát quán chiếu và tu tập pháp Bát Nhã như thế, biết rằng danh, tướng chỉ là vì phương tiện mà giả tạm lập nên, thì đối với Sắc, Thọ, tưởng, Hành, Thức cùng tất cả các pháp khác đều không chấp trước, đối với trí tuệ cũng không chấp trước, đối với thần thông cũng không chấp trước, đối với bất cứ pháp gì cũng không chấp trước. Vì sao vậy? Tại vì, nếu còn chấp trước, thì không bao giờ đạt được giải thoát. Này Tu Bồ Đề! Khi Bồ Tát quán chiếu và tu học pháp Bát Nhã như vậy và không chấp trước đối với tất cả vạn pháp thì có thể hoàn thành công hạnh tu tập sáu pháp Ba La Mật, có thể tiến vào quả vị bất thối, đầy đủ thần thông, qua lại các cõi Phật, hóa độ chúng sinh, trang nghiêm Phật độ, và tự mình an trú trong cảnh giới tự tại giải thoát. Này Tu Bồ Đề! Sắc có phải là Bồ Tát không! Thọ, Tưởng, Hành, Thức, có phải là Bồ Tát không? Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý có phải là Bồ Tát không? Đất, Nước, Gió, Lửa, Không, Thức, có phải là Bồ Tát không? Người nào xa lìa được Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý, Đất, Nước, Gió, Lửa, Không, Thức, cũng có phải là Bồ Tát không?

Tu Bồ Đề thưa:

– Bạch Thế Tôn! Tất cả những gì Thế Tôn vừa nêu lên đó, đều không thể gọi là Bồ Tát.
– Này Tu Bồ Đề! Vì sao mà thầy bảo là tất cả những gì tôi vừa nêu lên đó đều không thể gọi là Bồ Tát! Thầy có thể cho biết được không?

– Bạch Thế Tôn! Cái mà xưa nay vẫn được gọi là chúng sinh là cái không thể biết, không thể nắm bắt; bất luận là pháp gì đi nữa, kể cả Bồ Tát, cũng đều là như vậy cả. Bảo rằng có pháp này, bảo rằng không có pháp này, cho đến bảo rằng xa lìa pháp này, đều không thể gọi là Bồ Tát.

Phật khen ngợi:

– Đúng như vậy, thầy Tu Bồ Đề! Cái được gọi là Bồ Tát, được gọi là Bát Nhã đều không thể nắm bắt. Bồ Tát tuy đang tu tập nhưng vốn thật không có tu tập. Này thầy Tu Bồ Đề! Tôi lại hỏi thầy, các pháp Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức v.v.. có phải là ý nghĩa Bồ tát không?

– Bạch Thế Tôn! Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức v.v… đều không phải là ý nghĩa Bồ tát.

– Tu Bồ Đề! Thầy nói rất đúng. Bồ Tát khi tu tập trí tuệ Bát nhã, đối với các pháp Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, hoặc Thường hoặc Vô Thường, hoặc Hữu Vi hoặc Vô Vi v.v… đều không thể nắm bắt. Bồ Tát hãy lấy tâm ý trống không rộng rãi để tu tập Trí tuệ Bát nhã.

Này Tu Bồ Đề! Thầy nói Thầy không thấy có Bồ Tát cùng danh xưng Bồ Tát, pháp cùng Pháp Giới, Pháp Giới cùng Nhãn Giới, Nhãn Giới cùng Ý Thức Giới v.v… những pháp tương đối này đều không phải là đối lập nhau. Vì sao vậy? Vì nếu bỏ Pháp Hữu Vi thì không thể thành lập Pháp Vô Vi được. Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát tu tập Trí tuệ Bát nhã như thế đó, không thấy có bất cứ pháp gì thì sẽ không có sợ hãi, tâm ý không dính mắc ở bất cứ pháp nào thì sẽ không có hối hận. Như thầy đã nói, Bồ Tát tu học Trí tuệ Bát nhã như thế đó cũng không dính mc vào danh xưng B Tát, đó mi là chân danh Bt, chân danh Bát nhã; đó mới là giáo pháp của Bồ Tát đã nói.

Trong số mấy vạn thính chúng tại pháp hội Bát Nhã này, chỉ có đức Phật và Tu Bồ Đề đối thoại với nhau, đó là vì chỉ có Tu Bồ Đề là người thể chứng được Trí tuệ Bát nhã và có nhận thức sâu sắc, rốt ráo về đạo lí KHÔNG sâu xa mầu nhiệm, và cũng vì thế mà tôn giả được tôn xưng là vị thượng thủ hiểu rõ về Tánh Không bậc nhất trong tăng đoàn.

Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dùng âm thanh của tiếng chuông mà khai ngộ tánh nghe cho toàn thể các vị đệ tử của ngài, mà đại diện là A Nan: “Khi đó Phật liền bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông A Nan rằng: ‘Ông có nghe không?’ A Nan thưa: ‘Nghe’. Đến lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi: ‘Ông có nghe không?’ A Nan thưa: ‘Không nghe’. Phật lại bảo La Hầu La đánh lại một tiếng chuông nữa và hỏi: ‘Ông có nghe không?’ A Nan đáp : ‘Nghe’. Phật hỏi: ‘Thế nào là nghe và thế nào là không nghe?’ A Nan thưa: ‘Vì đánh chuông có tiếng ngân nên con nghe, đến khi tiếng chuông hết ngân thì con không nghe’. Phật dạy: “A Nan ! khi tiếng chuông hết ngân ông nói rằng không nghe, nếu ông thật không có cái nghe thì ông đồng như cây đá, tại sao đánh tiếng chuông thứ hai ông lại nghe? Vậy cho biết cái tiếng (cảnh) khi có khi không, chứ cái nghe (tâm) của ông thì lúc nào cũng có. Nếu cái nghe của ông thật không, thì cái gì biết được không nghe đó. Thế nên biết cái tiếng nó tự sinh và diệt, chứ cái nghe (tâm) của ông không phải vì tiếng sinh mà nó có, tiếng diệt thì nó không. Tại ông điên đảo, hôn mê nhận cái thường (tính nghe) làm đoạn diệt (tiếng), chứ không phải rời sáu trần cảnh : sắc, thanh, hương, v.v.. mà các giác quan thấy nghe hay biết của ông không có” . Khi ta thật sự chiêm nghiệm và thấu rõ thật tướng của âm thanh thì ta dứt được cái nhân đau khổ, sân hận phát sinh từ cái “nghe”. “Nghe” mà chấp trước chính là một trong những cửa ngỏ quan trọng dẫn chúng ta đến nơi đau khổ…

Kinh Kim Cang :

“Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lại nghĩ rằng ‘Ta có thuyết pháp’. Ông chớ nghĩ như vậy. Bởi vì sao? Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có thuyết pháp tức là chê Phật, không hiểu được lời ta nói. Tu bồ đề! Thuyết pháp là không có pháp gì có thể thuyết, đó gọi là thuyết pháp”.

“Như-lai nói tam thiên đại thiên thế giới, nhưng chẳng phải (thật có) thế giới, chỉ tạm gọi (cưỡng danh) là thế giới mà thôi (vì nó là hư vọng, không thật). Bỡi vì sao? Bởi vì nếu thế giới mà thật có, thì tức là tướng nhất-hợp. Như lai nói tướng nhất-hợp đó, nhưng chẳng phải thật có tướng nhất-hợp, chỉ tạm cưỡng gọi (giả danh) là tướng hợp nhất mà thôi. Này Tu bồ-đề! Tướng nhất-hợp (mà Như-lai đề cập đó, trong chỗ cùng tột) , thì nói không thể tới. Chỉ vì phàm phu hay tham chấp sự tướng mà nói thôi”.

“Như-lai thuyết vi trần chúng, tức phi vi trần chúng, thị danh vi trần chúng. – Như-lai nói những vi trần đó, nhưng chẳng phải (có thật) vi trần, chỉ tạm cưỡng gọi là vi trần (chỉ là phương tiện mà nói pháp nhằm khai ngộ cho phàm phu tham chấp sự tướng mà thôi)”.

“Tu-bồ-đề! Nhược nhơn ngôn: Phật thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Thị nhơn giải ngã sở thuyết nghĩa phủ?

-“Phất dã, Thế-tôn. Thị nhơn bất giải Như-lai sở thuyết nghĩa. Hà dĩ cố? – Thế-tôn thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức phi ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, thị danh ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến.”

Tạm dịch :

“Này Tu-bồ-đề! Bằng có người nói Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Tu-bồ-đề! Ý Ông thế nào ? Người ấy có thấu tỏ nghĩa lý của Ta nói không?

-“Bạch Thế-tôn, không ạ! Người ấy chẳng tỏ thấu ý nghĩa lời Phật dạy. Bởi cớ sao? – Bởi Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến nhưng chẳng phải (có thật) là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, mà chỉ tạm gọi là (mượn lời-giả danh) ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến (để làm phương tiện nói pháp) mà thôi.

Kinh Văn Thù :

“Ta trú ở thế gian để giáo hoá chúng sanh 49 năm, chưa đặt ra một câu bằng văn tự để nói với ai bao giờ! Vì theo chánh đạo, nếu ta lấy văn tự để làm bằng chứng để cầu đạo, ấy là nệ; lấy sự khổ hạnh để cầu Phật, ấy là mê; lìa tâm ra mà cầu Phật, ấy là ngoại đạo; mà cố chấp cái tâm ấy là Phật, cũng lại là ma vậy.”

Kinh Dị giáo :

“Các Thầy Tỳ-kheo, phải thường nhất tâm, cần cầu tỉnh giác.  Toàn thể vũ trụ, dù là  pháp động, hay pháp bất động, đều là các tướng, tan rã bất an”.

Một lần nọ, một người trí thức Bà la môn hỏi tôn giả Tu Bồ Đề:

– Thưa đại đức! Tôi nghe nói đại đức là người đệ tử của đức Phật hiểu rõ nhất về Tính (Tánh) Không. Vậy tôi xin đại đức giải thích cho thắc mắc của tôi. Thật sự là tất cả vạn vật trên thế gian đang tồn tại rõ ràng trước mắt, mà tại sao đại đức bảo chúng đều là không?

Tu Bồ Đề liền chỉ ngay một ngôi nhà trước mặt, nói:

– Xin ông hãy nhìn ngôi nhà kia! Nó là do bốn yếu tố (đất, nước, gió, lửa) và các thứ nhân duyên khác hợp lại mà có. Nếu lấy riêng từng thứ vật liệu như gỗ, đất, gạch, ngói v.v… từ ngôi nhà ấy ra, thì chẳng những ngôi nhà đã không có, mà ngay cả tên gọi “ngôi nhà” cũng không có. Vì ngôi nhà ấy do tất cả những thứ không phải là nhà hợp lại mà có, cho nên chúng ta bảo ngôi nhà ấy là không. Không, không có nghĩa là phủ nhận không có căn nhà; nó không mang nội dung của cặp ý niệm đối đãi có-không. Không là không có một bản ngã, một thực thể riêng biệt, độc lập. Và chính vì vậy, không là bản thể của tất cả sự vật trên thế gian.

Người trí thức Bà la môn nghe xong, trầm ngâm giây lát, rồi chắp tay đối trước Tu Bồ Đề nói:

– Đại đức quả không hổ là người đệ tử của đức Phật hiểu rõ nhất về tính không. Lời chỉ dạy của đại đức làm cho tôi rất kính phục. Tôi tự lấy làm xấu hổ không đủ tư cách để biện luận với đại đức. Xin chào đại đức và mong được gặp lại.

Trong thế đứng trang nghiêm. Tu Bồ Đề đưa tay vẽ một vòng trên không, nói với người Bà la môn:

– Trong khi tóc của ông từ màu đen chuyển đổi thành trắng bạc, trong khi chiếc lá ở đầu cành cây kia rụng xuống đất, vẫn có hạt giống của bông hoa kia rơi và bị chôn vào lòng đất, rồi nảy mầm, lớn lên, nở hoa, kết trái … trải qua một thời kì biến chuyển tuần hoàn, lại trở thành nguyên dạng của nó. Ông hãy ghi nhớ lấy: đó là Không đấy. Nói xong, hai vị chia tay từ giã.

5. PHÚ LÂU NA -THUYẾT PHÁP ĐỆ NHẤT

 

Ở Ấn Ðộ, dòng họ Phú Lâu Na có danh tiếng và giàu có, Phú Lâu Na rất được cha mẹ thương yêu. Tôn giả có khuôn mặt tròn đầy, mắt chan chứa vẻ từ hòa, người độ lượng khoan dung, nhưng rất can đảm. Như bao nhiêu người khác ở Ấn Ðộ, người con được gọi bằng tên mẹ. Theo tiếng Phạn gọi cho đủ là Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử, gọi tắt là Phú Lâu Na (Puràna). Ngoài đức tính từ hòa do truyền thống dòng họ hun đúc, NgàI còn có tàI hùng biện. Với tài năng sẵn, có Ngài đã giúp đức Phật truyền bá chánh pháp khắp nơi và được mọi tầng lớp dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Tại nước Kiều Tát Di, Tôn giả đã thuyết phục chúng Tỳ kheo ẩn cư đi bố giáo. Trong chúng hội có Tỳ kheo làm việc tà, Tôn giả đã sử dụng ngôn ngữ xảo diệu để cản ngăn. Tại núi Kỳ Xà Quật trong cuộc kiết tập kinh điển về phần Luật tạng Ngài Ma Ha Ca Diếp đem 8 pháp ẩm thực ra yêu cầu các Tỳ kheo phải giữ.

Thế gian có câu: Muốn bắt cọp hãy vào hang cọp. Muốn vào hang cọp phải cần có can đảm, không can đảm không thể nào bắt được cọp; người chiến sĩ muốn thắng kẻ thù cần phải can đảm xông pha ở chiến trường. Cũng thế, người hành đạo phải can đảm chịu mọi thử thách. Có can đảm thắng lướt mọi gian lao mới thành tựu được sự nghiệp đời hoặc đạo. Trong số 10 vị đại đệ tử của Phật, Phú Lâu Na trở thành một vị thuyết pháp đệ nhất nhờ đức can đảm, đi bất cứ nơi đâu kể cả xứ bạo ngược nhất.

Phú-lâu-na thuyết pháp độ sanh không cầu sự cung kính, không mong dễ dàng, những nơi khó giáo hóa đến đâu, hẻo lánh đến đâu, Tôn giả cũng nhiệt tâm, mong muốn đến đó truyền bá Phật pháp.

Một hôm, sau mùa an cư, Phú-lâu-na nghĩ đến việc đi hoằng hóa, bèn đến thưa đức Phật:

– Bạch Thế Tôn! Xin Ngài từ bi cho phép con đến nước Du-lô-na bố giáo!

Đức Phật nghe nói rất hoan hỷ. Nhưng đức Phật là một nhà truyền giáo vĩ đại, Ngài biết chuyện ấy không phải dễ, chỉ cần đến một nơi như nước Du-lô-na sẽ biết sự thật, Thế Tôn nói:

– Phú-lâu-na! Việc giáo hóa chúng sanh lợi mình, lợi người, ta rất vui hứa cho chí nguyện của ông. Ông đi giáo hóa các nơi ta đều yên lòng. Nhưng ta bảo ông, bố giáo không nhất định phải đi đến nước Du-lô-na. Tốt nhất ông nên chọn nơi nào khác để đi.

– Vì cớ sao? Thưa Thế Tôn! Hễ nơi nào có chúng sanh đáng độ, chẳng phải đều có thể đến đó giảng giải ư?

Đức Phật giải thích:

– Phú-lâu-na! Du-lô-na là một nước nhỏ hẻo lánh, không có đường giao thông thuận tiện, giáo hóa chẳng được như ý. Dân chúng tánh tình rất hung bạo, đánh chửi thành thói quen, người nước ngoài đến đó dễ bị mất mạng. Hôm nay ông muốn đến nước đó chẳng lẽ ông không sợ nguy hiểm sao?

Nghe Phật nói như vậy, Phú-lâu-na chỉ mỉm cười, biểu lộ chí nguyện cương quyết của mình:

– Thưa Thế Tôn! Ngài từ bi thương tưởng chúng đệ tử, con không thể dùng lời diễn tả mối cảm kích. Con vì cảm động ân ấy mà hoan hỷ nguyện đem thân nhỏ mọn này phụng hiến cho đức Phật, phụng hiến chánh pháp và tất cả chúng sanh. Chính vì Du-lô-na là một nước biên địa hoang dã, trước đây chưa người nào phát tâm giáo hóa, nên con mới nghĩ rằng không đến đó không xong. Đến đó, con cũng biết có tất cả nguy hiểm theo bên mình, nhưng vì muốn tuyên dương chánh pháp thì sự an nguy của một cá nhân bé nhỏ của con không phải là vấn đề cần yếu. Cúi xin đức Thế Tôn từ bi hứa khả, dùng từ quang nhiếp hộ con, cho phép con đi khai mở một cõi Tịnh độ nhân gian.

Trên gương mặt đức Thế Tôn lộ vẻ an tường rất mực từ bi, Ngài vui thích tinh thần vì pháp quên mình của Phú-lâu-na. Nhưng đức Thế Tôn nhìn hàng đệ tử tả hữu đông nhiều, họ cần phải cụ bị tinh thần của một nhà truyền giáo, nên thân thiết hỏi Phú-lâu-na:

– Phú-lâu-na! Ông nói đúng, làm đệ tử ta bố giáo là việc tu hành trọng yếu thứ nhất, nhưng ta hỏi ông, ông đến nước Du-lô-na, nếu như họ không chấp nhận ông mà lớn tiếng chửi mắng, thì ông làm sao?

– Bạch Thế Tôn! Họ mắng chửi con, con vẫn thấy họ còn tốt vì họ cũng chưa lỗ mãng đến nỗi dùng roi gậy đánh đập con.

– Nếu như họ dùng nắm tay, gạch ngói, roi gậy đánh đập ông?

– Con vẫn thấy họ còn tốt, chưa đến nỗi đâm chém con.

– Nếu như họ dùng dao búa như thế?

– Con cũng cho họ rất tốt, họ cũng còn tình người chưa đến nỗi giết con chết.

– Nếu như họ giết ông chết?

– Như thế con lại cảm ơn họ, đã giết sắc thân của con, hỗ trợ cho đạo nghiệp của con, giúp con mau vào Niết-bàn, giúp con đem sanh mạng báo đáp ân đức của Thế Tôn.  Điều ấy đối với con tuy không có trở ngại, chỉ sợ di hại ảnh hưởng không tốt cho họ thôi.

Đức Phật rất hoan hỷ, khen ngợi Tôn giả:

– Phú-lâu-na! Ông không hổ là đệ tử thứ thiệt. Tu đạo, bố giáo, nhẫn nhục, tâm cảnh của ông rất bình an. Chúng ta sẽ đưa ông lên đường.

Phú-lâu-na được Phật khuyến khích rất cảm động, tâm bố giáo bất thối chuyển càng tăng cường mạnh mẽ. Tôn giả đảnh lễ Phật xong, thẳng đến nước Du-lô-na giữa những tiếng hoan nghênh đưa tiễn của chúng Tỳ-kheo.

PHÁP THOẠI CÙNG XÁ LỢI PHẤT

       Một hôm Phú Lâu Na đến yết kiến Phật và lui về ở một nơi lân cận. Các vị tỳ kheo báo tin cho ngài Xá Lợi Phất biết để đi thăm. Ðến nơi, tôn giả bắt đầu hỏi chuyện:
– Hiền giả, hiền giả vì mục đích gì mà sống phạm hạnh dưới đức Ðạo sư? Phải chăng vì mục đích thành tựu giới thanh tịnh?
– Không phải vậy, hiền giả.
– Vì mục đích kiến thanh tịnh?
– Không phải vậy, hiền giả.
– Vì mục đích đoạn nghi thanh tịnh?
– Không hiền giả.
– Vì mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
– Cũng không, hiền giả.
– Khi ấy tôn giả Xá Lợi Phất nói:
– Hiền giả, tôi hỏi cái gì hiền giả cũng đáp không phải vì mục đích ấy mà hiền giả sống phạm hạnh. Vậy thì, hiền giả sống phạm hạnh vì mục đích gì?
– Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Niết bàn.
Xá Lợi Phất hỏi tiếp:
– Có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Niết bàn?
Phú Lâu Na đáp không. Hỏi tâm thanh tịnh, cũng đáp không, lần lượt hỏi bảy thanh tịnh, cũng đáp không phải là vô thủ trước Niết bàn. Khi ấy, Xá Lợi Phất lại hỏi:
– Trong bảy thanh tịnh, hiền giả đều nói không có cái gì là vô thủ trước Niết bàn, nghĩa là làm sao?
Phú Lâu Na đáp:
– Hiền giả, nếu Thế tôn dạy giới thanh tịnh là vô thủ trước Niết bàn thì vô thủ trước ấy cũng đồng đẳng với hữu thủ trước (chấp vào giới), về sáu thanh tịnh kia cũng vậy. Và nếu Thế tôn dạy cái gì ở ngoài bảy pháp ấy là vô thủ trước Bát Niết bàn, thì kẻ phàm phu cũng gọi là Bát Niết bàn, vì phàm phu không có bảy pháp ấy. Hiền giả, tôi lấy một ví dụ. Như vua Ba Tư Nặc đi xe từ Xá Vệ đến Saveta qua bảy trạm xe. Khi vua đến nơi bằng chiếc xe của trạm thứ bảy, đình thần ra đón và hỏi có phải nhờ chiếc xe này mà vua đi từ Xá vệ đến hay không. Khi ấy vua phải trả lời thế nào mới đúng?
Xá Lợi Phất đáp:
– Dĩ nhiên vua phải nói, đã đi từ trạm xe thứ nhất đến trạm xe thứ hai bằng một cỗ xe khác, lần lượt đổi xe ở mỗi trạm cho đến cỗ xe cuối cùng này.
– Hiền giả, cũng như vậy với bảy thanh tịnh. Giới thanh tịnh chỉ có mục đích đạt được tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh là để đạt đến đoạn nghi thanh tịnh, đoạn nghi thanh tịnh là để đạt đến đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến đạo tri kiến thanh tịnh, đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh là để đạt đến vô thủ trước Bát Niết bàn.
Nghe xong tôn giả Xá Lợi Phất hỏi tôn giả Phú Lâu Na:
– Tôn giả tên gì? Các vị đồng phạm hạnh gọi tôn giả như thế nào?
– Tên tôi là Phú Lâu Na, các bạn gọi tôi là Di Ða La Ni Tử.
– Thật vi diệu thay, hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được một bậc đệ tử đa văn của Ðấng Ðạo sư giải, và vị ấy là tôn giả Phú Lâu Na. Thật hạnh phúc cho chúng tôi được thân cận thăm viếng Tôn giả.
Khi ấy, tôn giả Phú Lâu Na hỏi lại:
– Còn hiền giả tên chi, các vị đồng phạm hạnh gọi hiền giả như thế nào?
– Tên tôi là Tích Sa, các vị đồng phạm hạnh gọi tôi là Xá Lợi Phất.
Một bất ngờ kỳ thú! Tôn giả Phú Lâu Na muốn bật ngửa người vì ngạc nhiên, không ngờ nãy giờ mình đã múa rìu qua mắt thợ! Nhưng ông thợ này quá khiêm tốn dễ thương. Ngài Phú Lâu Na ngợ đi một hồi mới bảo:
– Tôi đang nói chuyện với bậc đệ tử được xem ngang hàng với đức Ðạo sư mà không biết! Nếu tôi biết Ngài là Tôn giả Xá Lợi Phất, thì tôi đã không nói nhiều như vậy.

Ðiểm đặc biệt mà Ngài đã trội hơn các đệ tử khác là tinh thần bố giáo cao độ, Tôn giả không những thường xuyên đi bố giáo mà cả những nơi xa xôi hẻo lánh, dân tình bạo ngược, Tôn giả đều can đảm xung phong. Bởi thế Tôn giả được tôn xưng là vị Thuyết pháp Ðệ Nhất.

6.     MỤC KIỀN LIÊN – THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT

Mục Kiền Liên chào đời tại một ngôi làng nhỏ gần kinh đô Patna của vương quốc Magadha, nay thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Ðộ. Thuộc giòng dõi Mudgala, tức là “Thiên văn gia.” Theo ngữ căn thì danh từ Moggalàna phát nguồn từ chữ Mudgala (một giòng dõi chuyên nghiên cứu Thiên Văn học rất cổ).

Là công tử từ một giai cấp cao quý và thuộc giòng dõi mọi người tôn kính, phụ thân của ngài chẳng khác nào một Tiểu vương. Lớn lên trong một khung cảnh sang trọng không thiếu thốn bất cứ món gì. Được giáo dục theo truyền thống Bà la môn giáo. Một lần ngài cùng người bạn tên Upatissa (Xá-lợi-phất) đi dự hội “Hội Sơn Thần” (trước tế lễ thần núi, sau để dân chúng có một dịp liên hoan vui thú). Sau ngày vui đó tâm tưởng luôn nghĩ về Tử Biệt Sinh Ly giữa cuộc đời và cứu rỗi, hai người quyết đi tìm đường Giải thoát. Từ đó họ quyết định sống một cuộc sống đời làm Đạo sĩ, thoát ly gia đình, thoát bỏ sợi dây giai cấp của Bà la môn.

Ngài cùng bạn Ngài là Xá-lợi-phất đã gặp nhiều vị Giáo chủ, biết nhiều triết học khác nhau. Một số chủ trương hẳn thuyết Vô Ðạo Ðức (đạo đức là sự vô ích) một số khác đề cao thuyết Ðịnh Mệnh, và một số khác truyền bá tư tưởng Duy vật. Họ nhận thấy sự sai lầm của những giáo thuyết như thế, nên chẳng bao lâu đã không màng để tâm nghiên cứu nữa. Khi ấy cả Mục Kiền Liên và Xá-lợi-phất đã khoảng bốn mươi tuổi, và nhằm lúc Đức Phật vừa cho phép đoàn đệ tử đầu tiên đi truyền bá chân lý. Ðoàn sứ giả ấy, gồm sáu mươi vị, tất cả là những Thánh nhân. Mục đích đoàn Thánh Tăng này là đi ban bố giáo lý an lành và tiến hóa trong nhân loại. Còn đức Phật, Ngài đích thân đến thành Vương Xá (Ràjagaha) để tiếp độ vị vua nước Magadha tên là Bimbisara. Phật đang có mặt tại ngôi chùa này thì Mục Kiền Liên và Xá-lợi-phất vừa quay về thành Vương Xá, tạm thời ngụ trong viện của Đạo sĩ Sànjaya. Một hôm Xá-lợi-phất đã ra đường phố, còn Mục Kiền Liên ở nhà. Chợt chàng thấy người bạn thân trở về với vẻ mặt vô cùng hớn hở mà từ xưa đến giờ chưa bao giờ nhìn thấy. Phong độ của Xá-lợi-phất lúc ấy hoàn toàn khác hẳn: trang nghiêm và rạng rỡ! Mục-kiều-liên lập tức hỏi:- Này bạn! Vẻ mặt bạn thật thỏa mãn, dung nghi bạn rất trong sáng, phải chăng bạn đã tìm ra con đường Giải thoát?

Xá-lợi-phất trả lời:

Ðúng như thế, thưa bạn! Pháp giải thoát khỏi sự chết đã được khám phá.

Rồi Xá-lợi-phất thuật lại rằng: Trên con đường phố chàng gặp một vị Sa Môn phong cách rất tự tại. Vị Sa Môn này đã làm cho ông phát sinh lòng kinh cảm, rồi ông không ngần ngại hỏi vị Sa Môn xem Tôn sư Ngài là ai. Sa môn ấy chính là Trưởng lão A-thuyết-thị một trong những vị đệ tử đầu tiên của đức Phật và cũng là một trong sáu mươi vị A La Hán. Trưởng lão Assaji còn xác nhận rằng Ngài chỉ là một đệ tử của vị Ðại sĩ thuộc giòng họ Cồ-đàm.

Khi Xá-lợi-phất yêu cầu Sa Môn A-thuyết-thị ban bố giáo lý thì Ngài nói rằng không thể thuyết pháp được nhiều, vì Ngài mới thọ Cụ Túc giới mấy tháng. Và Ngài chỉ tiết lộ Ngài vừa học được bốn sự thật sâu sa (Tứ diệu đế) mà ngoài bậc Giác Ngộ ra, phàm nhân không thể nào quán triệt.

Nhưng Xá-lợi-phất liền cầu khẩn Ngài chỉ dạy cho, dù một phần tinh yếu cũng đủ cho mình phăng ra mối đạo.

A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ trứ danh, sau được gọi là “Duyên khởi kệ”:

Dịch nghĩa :

Nhược pháp nhân duyên sinh

Pháp diệc nhân duyên diệt

Thị sinh diệt nhân duyên

Phật Đại sa-môn thuyết.

Các pháp do nhân duyên sinh

Cũng theo nhân duyên diệt

Thấy nhân duyên sinh diệt này

Phật giảng cho đại chúng môn đồ.

Kệ môn này sau khi được đức Phật thốt ra đã trở thành câu nói gói trọn giáo lý giải thoát, và trở thành Triết học căn bản của đạo Phật xuyên qua nhiều thế kỷ.

Xá-lợi-phất nghe được kệ ngôn ấy liền đắc Pháp nhãn (Dhamma Cakkhu) trong tâm thức chứng quả Nhập Lưu, Tu Ðà Hườn (Sotàpatti). Rồi khi chàng thuật lại cho Kolita nghe, người ấy cũng chứng quả tương tự. Nghĩa là cả hai cũng giác ngộ rằng “Bất cứ cái gì sinh ra đều phải tan biến”. Sự thấy rõ chân lý do bài kệ này soi sáng, quả thật là một biến cố kỳ diệu. Ðối với chúng ta ngày nay, bốn câu kệ ngôn trên đây không thể đả thông hết tâm thức si mê, nên chúng ta nghe mà cũng chưa trực nhận được ý nghĩa nào. Chiều sâu và chiều rộng của câu Phật Ngôn ấy, chỉ có thể biểu hiện đối với những ai đã từng tinh tấn tu tập hạnh từ bỏ những dục lạc tạm bợ ở đời, và hằng rèn luyện trí tuệ để thấy rõ lý vô thường (luôn luôn chi phối bởi nhân duyên điều kiện) và chứng thực đạo bất sinh từ.

Liền ngày hôm sau, Xá Lợi Phất đã cùng Mục Kiền Liên, dẫn theo hai trăm đồ chúng của họ, cùng đến tu viện Trúc Lâm xin xuất gia theo Phật. Đức Phật rất hoan hỉ, vì biết rằng, từ ngày thành đạo, đến nay mới có được hai người đệ tử đích thực có khả năng, có thể tiếp thọ chân lí do mình truyền đạt; trong khi đó thì Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng biết chắc chắn rằng, cho đến hôm nay mình mới đích thực có được bậc Thầy chân chính!

Trong hàng Thánh chúng hay 10 đại đệ tử của Phật, Mục Kiền Liên là vị Thần Thông Ðệ Nhất đứng đầu. Với các lậu hoặc trong thời gian 7 ngày, Mục Kiền Liên đã dứt sạch và có thần thông số một. Trong mọi tình huống Mục Kiền Liên thường hay sử dụng phép thần thông; khi đi truyền giáo Ngài dễ dàng chinh phục được người, nhưng pháp căn bản của đạo giải thoát không phải là thần thông, với nghiệp lực của con người thần thông không thể giải cứu. Với phép thần thông có thể khuất phục được người dễ dàng, nhưng chưa hẳn lòng người đã không oán giận. Dù bị Phật nhắc nhở Ngài vẫn sử dụng phép thần thông để làm phương tiện. Ngày Tỳ Lưu Ly đến vây hãm thành Ca Tỳ La Vệ Mục Kiền Liên đã dùng thần thông đến cứu dòng họ Thích Ca bị bách hại, thành Ca Tỳ La Vệ vẫn bị hỏa thiêu. Ngài vẫn không cứu được mẹ bằng phép thần thông. Ngay chính bản thân Ngài cũng đã không thắng được nghiệp báo để thoát chết bởi bọn ngoại đạo, khi Ngài đến truyền đạo tại thành Thất La Phiệt. Ðó là chưa kể đến trường hợp người có thần thông sẽ lợi dụng phép đó để làm việc bất chánh. Giá trị của thần thông là để giúp người tu chứng thấy xuyên suốt thời gian vô cùng và không gian vô tận, để biết được mọi vấn đề, mọi sự kiện, kể cả những gì sâu kín nhất trong lòng nguời. Nhưng Ðức Phật đã không đặt nặng vấn đề tu luyện thần thông.

Thần thông của Mục-kiền-liên trong hàng đệ tử Phật không ai sánh bằng, phàm làm việc gì Ngài vận dụng thần thông. Thần thông rất tiện cho việc tiếp dẫn chúng sanh, nhưng thần thông không thể trái ngược phép tắc nhân quả, không thể thắng nghiệp lực, không thể giải thoát sanh tử phiền não, đó là sự thật.

Một lần nọ, thành Ca-tỳ-la bị vua Lưu Ly nước Kiều-tát-la (Kosala) xâm lược. Ban đầu đức Thế Tôn cũng động lòng ái quốc tìm cách giải cứu, ba phen ngồi chận đường cản trở đại quân của vua Lưu Ly. Tuy vua Lưu Ly mỗi lần gặp Phật, mỗi lần lui binh nhưng lòng thù hận muốn báo thù và xâm lược không dứt được. Đức Phật biết sự báo ứng của nhân quả, muốn để cho nó tự kết thúc nên sau đó để cho vua Lưu Ly tự do đi.

Thật là thần thông của Mục-kiền-liên không thể giải được hết sạch nghiệp báo. Tôn giả biết đại quân của vua Lưu Ly bao vây thành Ca-tỳ-la, và rất kích động đến bạch Phật:

– Thưa Thế Tôn! Thành Ca-tỳ-la bị vua Lưu Ly xâm lược, chúng con cần phải tận lực để bảo cứu nhân dân trong thành.

Đức Phật nhìn Tôn giả giây lâu rồi từ hòa nói:

– Mục-kiền-liên! Dòng Thích-ca chịu quả báo của tội nghiệp nhiều kiếp đã qua. Đó là cộng nghiệp chiêu cảm, ông không thể chịu thay cho họ. Họ chẳng chịu sám hối, một bề kiêu mạn, không sửa đổi, nhà cửa mục nát thì đến ngày sụp đổ thôi!

Mục-kiền-liên nghe Phật nói, tuy biết đó là sự thật, nhưng nghĩ đến thần thông quảng đại của mình, muốn dùng để cứu nạn dân chúng trong thành.

Vua Lưu Ly dùng trăm vạn đại quân vây khốn Ca-tỳ-la, một giọt nước cũng không lọt, người ta làm sao đi lại. Chỉ có Mục-kiền-liên vận thần thông nương hư không bay vào thành. Tôn giả vào thành rồi, chọn năm trăm người ưu tú trong dòng Thích-ca thâu nhiếp vào trong bình bát, và bay ra. Đến một nơi an ổn, Ngài mở nắp bát tính thả năm trăm người ấy ra, chẳng dè không thấy gì cả. Một phen nhìn xuống thất kinh hồn vía, năm trăm người trong bát đều hóa thành máu cả.

Đến lúc này Tôn giả mới biết lời Phật nói không sai, phép tắc nhân duyên chẳng thể làm ngược lại, dầu kể là thần thông cũng không qua nghiệp lực.

    Pht dy Mahà Moggallàna (Mc kin liên) tám phn pháp gii tr chưng ngi hôn trm (bun ng)

1- Này Mahà Moggallàna! Đừng nghĩ rằng có cơn buồn ngủ đang ở trong ông, rồi chú ý đến nó. Giữ tâm như thế cơn buồn ngủ sẽ biến mất.

2- Nếu làm như vậy mà hôn trầm không đi mất thì ông nên nhớ lại những lời dạy của Như Lai và suy gẫm. Khi ông nhớ đủ, rồi soi xét ý nghĩa giải thoát thì hôn trầm sẽ biến mất.

3- Nhưng nếu nhớ đủ Phật ngôn như thế mà hôn trầm không biến mất, thì ông nên lập lại sự phán xét ấy một cách chi tiết hơn về các pháp hữu vi của Như Lai đã dạy, hôn trầm sẽ theo đó mà biến mất.

4- Nhưng nếu hôn trầm cũng không biến mất thì ông đem tâm ý phổ vào xúc giác, cọ mạnh đôi vành tai và xoa bóp tứ chi thì hôn trầm (hay cơn buồn ngủ) sẽ biến mất.

5- Khi làm như vậy mà hôn trầm cũng không đi mất thì ông nên đổi oai nghi, để tâm và ý duyên vào động tác, như đứng dậy đi rửa mặt bằng nước mát, rồi phóng tầm mắt quan sát tất cả mười phương tám hướng. Đoạn ông nhìn lên bầu trời, quan sát mọi tinh tú, không gian, thì hôn trầm sẽ biến mất.

6- Nhưng nếu làm như thế mà hôn trầm vẫn không biến mất thì ông nên chăm chú đến ánh sáng. Nếu ấy là ban ngày thì lấy ánh sáng mặt trời làm đề mục. Ban đêm thì lấy ánh sáng tinh tú (trăng, sao) làm đề mục. Đây là cách làm cho tinh thần xán lạn không bị u ám, hôn trầm sẽ biến mất.

7- Nhưng nếu dùng ánh sáng bên ngoài mà hôn trầm không biến mất thì ông quay lại soi xét nội tâm. Lấy nội tâm làm đề mục và cố gắng xem kỹ từng ý nghĩa, giống như lấy ánh sáng tinh thần để rọi thẳng vào tâm thức để thấy rõ từng chập tư duy khác nhau, đừng để một thứ tư duy nào hiện lên trong đầu ông mà ông không biết, đồng thời ông đứng dậy đi kinh hành. Làm thế hôn trầm sẽ biến mất.

8- Như thế mà hôn trầm vẫn không biến mất thì ông có thể nằm xuống, biết rõ mình đang nằm như một con sư tử: vai mặt ở dưới, vai trái ở trên, hai chân duỗi thẳng, kê lên nhau, giữ trong tâm một ý niệm mạnh mẽ là: Ta phải biết mình toàn thân đang nằm như thế nào? Nếu thân thể ta mệt mỏi thì ta để cho nghỉ ngơi, nhưng ta không say đắm trong sự nghỉ ngơi ấy, thì hôn trầm sẽ biến mất.

– Này Mahà Moggallàna! Ông nên tinh tấn hành trì tám phương pháp này! (Theo Anguttara Nikàya VII 58: Tăng Nhất A Hàm số 58).

Trên đây, Đức Phật đã hướng dẫn ngài Mahà Moggallàna một phương pháp tiệm tiến để giải trừ sự hôn trầm. Điểm quan trọng nhất và hữu hiệu nhất là đừng để tâm mình bị lôi kéo bởi ý nghĩ cho rằng cơn buồn ngủ (hay hôn trầm) đang xảy đến và tiếp tục. Dĩ nhiên điều này rất khó làm. Nếu hành giả không thành công, họ có thể tập trung nghị lực, suy xét những lời Phật dạy, hoặc tự đọc thuộc lòng những lời dạy ấy. Khi giải pháp hướng dẫn trí nhớ (tinh thần) không đem lại kết quả hành giả có thể quay sang giải pháp tác động thân thể như kéo mạnh vành tai, lắc lư thân mình, chuyển vận huyết mạch bằng cách xoa bóp tứ chi, rửa mặt bằng nước lạnh v.v… Nếu vào ban đêm họ nên ngước mặt lên bầu trời, hướng sự chú ý vào vô biên thăm thẳm của vũ trụ, không gian đầy tinh tú. Ban ngày thì nhìn ánh sáng rực rỡ của vầng thái dương v.v… Những tác động ấy vừa có thể kích thích giác quan (nhất là xúc giác và thị giác) vừa có thể đưa tâm ý câu hữu với mọi đối tượng thiên nhiên bên ngoài.

Làm tất cả những điều ấy có thể giúp hành giả vượt qua cơn buồn ngủ, như trong Theragatha (Tôn Túc Kệ Ngôn) có lời lưu lại của một Thánh Tăng như sau:

“Chớ lùi bước vì hôn trầm mê ngủ

Nhìn không gian sao sáng chiếu lung linh

Khi đêm đến tâm mà như tinh tú

Tuệ tâm soi bừng giác tánh nơi mình!”

(Theragàthà V, 193)

Khi áp dụng tất cả các cách ấy mà hành giả không thắng nổi sự hôn trầm, lúc bấy giờ có thể quay về với ánh sáng nội tâm mà nhiều nhà Thần bí học đã nói. Hay nói một cách khác là quay về với sức mạnh kỳ diệu của giác tánh (là hạt giống lành đã gieo, do sự tu tập thiền định trong một kiếp nào đó). Sức mạnh hay ánh sáng nội tâm ấy sẽ giúp hành giả vượt ra ngoài sự chi phối xác thịt của cuộc đời hiện tại.

Trong trường hợp này, hành giả sẽ không còn phân biệt ngày hay đêm, bởi vì “Ánh sáng nội tâm” không để cho lằn mức giữa hai cái ấy (đêm và ngày) hiện hữu nữa. Nhờ với một tinh thần tự soi sáng, hành giả có thể loại bỏ, như một trời Phạm Thiên, toàn diện cảnh giới của ngày lẫn đêm (vốn chỉ là những hiện tượng giả lập của cảm quan!).

Khi Đức Phật, trong các điều dạy thứ năm, thứ sáu, thứ bảy nhắc đến tinh tú, bầu trời, ngày đêm v.v… tức là Ngài muốn ám chỉ những gì Mahà Moggallàna đã từng trải qua (từng an trụ) trong kiếp này hay kiếp trước.

Đối với chúng ta, tám lời dạy này tỏ ra quá bình thường bao nhiêu thì đối với Maha Moggallàna có ý nghĩa đặc biệt bấy nhiêu. Sự “Thắp lại ánh sáng nội tâm” ấy (Aloka sanõnõa) có ghi rõ trong bài Kinh số 33 của bộ Trường A Hàm (Dgha Nikaya) như một trong bốn cách phát triển thiền pháp dẫn đến trí tuệ và quang kiến (Sanõnõadassana).

Nếu tinh tấn cỡ ấy mà hôn trầm (đòi hỏi giấc ngủ của xác thân) không chấm dứt thì hành giả bắt buộc phải kinh hành. Kinh hành nhưng tâm trí không được lìa khỏi tầm soi sáng nội tâm bằng thiền lực, để tiêu trừ mệt mỏi do hôn trầm gây ra.

Tuy nhiên, nếu bằng cả “sự soi sáng nội tâm” ấy mà hành giả vẫn không đạt được kết quả thì bấy giờ họ có thể nằm xuống “nghỉ ngơi” trong chốc lát, vì đó là sự phản ứng tự nhiên của thân thể, chứ không phải do tánh lười biếng thúc giục xác thân đòi hỏi. Hành giả chỉ cần nằm để điều hòa oai nghi cùng quân bình sự quá độ trong chốc lát, chứ không phải để hưởng thụ. Vì vậy họ sẽ nhanh chóng ngồi dậy khi sự hôn trầm trôi qua.

Trong bài Kinh số 33 (Đức Phật dạy ngài Mahà Moggallàna cách tiêu trừ hôn trầm) còn một đoạn tiếp:

“Này Mahà Moggallàna! Ông nên tu tập xa hơn nữa bằng cách tự mình nhắc nhở rằng “khi đứng trước những thí chủ (khất thực) ta không nên tỏ ra ngã mạn, không nên có ý niệm trông đợi vật thí. Nhiều khi những thí chủ ấy bận rộn không hay sự hiện diện của ta, chứ không phải họ thờ ơ. Nếu ta ngã mạn và trông chờ vật thí, ta sẽ tưởng rằng họ lạnh nhạt với ta, và do đó phiền não nổi lên. Chỉ vì không nhận được bố thí mà một Sa-môn trở nên bất tịnh, trở nên khích động, trở nên nóng giận và mất hết an trụ là một điều trái đạo giải thoát”.

“Này Mahà Moggallàna (Mục-kiền-liên). Lại nữa, ông nên giữ nết hạnh tự mình nhắc nhở rằng: “Ta không nên nói điều tranh luận. Vì sự bàn cãi chỉ khiến ta nói nhiều (đa ngôn) khiến ta bị kích thích, khiến ta mất quân bình, và khiến ta khó định tâm trong thiền pháp.”

Ở đây Đức Phật đã chỉ ra hai trường hợp gìn giữ hạnh kiểm, hai trường hợp tránh sự loạn động và bất an nội tâm. Cả hai trường hợp này đều nằm trong thói quen tiếp xúc hằng ngày giữa một bậc xuất gia với các thiện tín.

Trong trường hợp thứ nhứt, một bậc xuất gia thường mong mỏi Phật tử nhìn nhận mình là một Sa-môn và hãnh diện với địa vị lãnh đạo tinh thần ấy, rồi đòi hỏi mọi người phải kính trọng. Nếu các hàng tại gia vì sơ ý hay bận rộn công việc sinh nhai mà thiếu quan tâm đến họ, họ sẽ trở thành lo lắng, sẽ trở nên bất mãn.

Trường hợp thứ hai, trong khi biện luận thường có sự tự đắc về cách biểu dương óc nhận xét sắc bén. Tự cao cho rằng “Ta biết nhiều hơn kẻ khác” hay “Ta hữu lý hơn để áp đảo người đối thoại” thường làm cho người tranh luận bất tịnh.

Kết quả, kẻ ham thích tranh luận chỉ phí bỏ một số thì giờ quý báu đáng lẽ phải dùng trong việc tu tập, phí bỏ hơi lực và để tim óc khích động mất bình an một cách vô lối, mà không gặt hái được thiện pháp đáng khen nào.

Kẻ dễ duôi biếng nhác và thiển cận thường để mình rơi vào các sinh hoạt bất tịnh như thế, nên họ không những khó tập trung được thần trí phàm phu. Còn khi muốn tu thiền, họ sẽ gặp rất nhiều chướng ngại.

Sau khi Đức Phật dạy cho Mahà Moggallàna (Mục-kiền-liên) tám cách vượt qua sự hôn trầm và hai trường hợp tránh xa sự khích động, Mahà Moggallàna liền bạch hỏi Phật như vầy:

– “Bạch Đức Thế Tôn! Xin Ngài giải nghĩa tóm tắt làm thế nào để một đệ tử có thể tự mình tiêu diệt hoàn toàn khát vọng, giải thoát và đạt tới cứu cánh cuối cùng, không còn bị trói buộc trong phiền não, được sống đời sống Thánh thiện và trong sạch hơn cả chư Thiên và nhân loại?”.

– “Này Mahà Moggallàna (Mục-kiền-liên)! Một bậc xuất gia nhờ tinh tấn tu tập mà nhận thức được rằng “Không có gì đáng cho ta dính mắc”, tức là họ bắt đầu biết rõ mọi vật. Và khi họ “biết rõ” mọi vật thì họ sẽ hiu rõ mọi vật. Khi một Sa-môn hiu, biết đầy đủ mọi vật thì bất cứ cm nghĩ nào họ trải qua, dù vui sướng hay đau khổ hoặc vô vị, họ cũng đều thy nó ở trạng thái vô thưng, họ sẽ nhìn nó một cách vô tư, không để nó lôi kéo, và sẵn sàng buông b. Khi một vị Sa-môn trở thành thanh tịnh như thế thì họ sẽ không ham thích bất cứ cái gì trong đời này, không ham thích thì họ không khao khát, và không khao khát họ sẽ không vưng mc, tức là họ đạt tới chỗ hoàn toàn tiêu dit dc vng, chm dt tái sanh, sống đời sng thánh thin. Rồi họ sẽ biết rõ rằng công trình tu tập gii thoát của họ đã viên mãn!”.

Sau khi Mahà Moggallàna nhận được những lời giáo huấn do Đức Phật đích thân truyền dạy (ghi trong Anguttara Nika(ya VIII, 58), ngài liền vững tâm hành đạo với một quyết tâm bất thối. Mục-kiền-liên đã tranh đấu với năm pháp chướng ngại một cách dũng mãnh phi thường. Hơn nữa, trong suốt những năm dài làm đạo sĩ du phương tầm đạo ngài đã thành công một cách vững chắc việc dẹp bỏ các ác ý (Sân triền) và những đam mê trần tục (Tham triền). Ấy chính là hai trong năm chướng ngại (Ngũ triền) ngăn cản hành giả tiến vào Thánh lưu.

Hiện tại, với sự hỗ trợ của Đức Phật, ngài Mục-kiền-liên vừa chiến thắng sự lười biếng và hôn trầm (Thụy miên triền, chướng ngại thứ ba), đồng thời ngài loại bỏ được bất định và lo âu (trạo triền, chướng ngại thứ tư) bằng cách tránh những va chạm xã hội vô ích. Sau cùng, ngài tiêu diệt được hoài nghi (nghi triền, tức pháp chướng ngại thứ năm) bằng cách hành theo lời Phật dạy là định tâm quán xét thấy rõ bộ mặt giả tạm của vạn vật, từ đó cắt đứt tình cảm dính mắc.

Khi đã loại trừ được năm pháp chướng ngại ấy, Mahà Moggallàna đạt đến trí tuệ thanh tịnh, vượt qua khỏi mọi hấp dẫn vật chất ở đời, và bằng một tri kiến sắc bén, ngài chọc thủng bức màn vô minh vi tế che đậy sự thật của cuộc sống, thấy rõ giải thoát Niết-bàn, trạng thái không còn dư sót phiền não.

Lúc Mahà Moggallàna đạt tới Sơ thiền, tâm đang phỉ lạc trong sự an trụ (Ekaggata), một thành công vi diệu mà người thường không thể nào hiểu được, văn tài thế gian dù lỗi lạc đến đâu cũng không thể nào diễn bày chính xác được, thì dần dần những tư tưởng trần tục len lỏi vào thiền tâm của ngài gây vọng động.

Đức Phật nhờ pháp nhãn đặc biệt liền biết rõ như thế. Ngài lập tức hiện đến để hỗ trợ vị đệ tử này. Nghĩa là khi Mahà Moggallàna bị năm pháp chướng ngại bao vây trở lại thì đã có Đức Phật bên cạnh tế độ. Nhưng những lần sau này, Phật không nhắc nhở một cách chi tiết như trước. Ngài chỉ thông giải thẳng vào chỗ “chướng ngại tái phát” là đã có thể giúp Moggallàna vượt qua sự bế tắc.

Đức Thế Tôn còn lưu ý Mahà Moggallàna rằng: “Chớ nên phỉ lạc và tin tưởng nơi sự đắc thiền, mà phải giữ vững thiền tâm hơn nữa để có thể tiến xa hơn khỏi mục tiêu nhất quán (Ekaggata)”

Mahà Moggallàna nhờ lời dạy này của Đức Phật mà từ đó về sau khi an trụ vào Sơ thiền, ngài không bị những ý nghĩ trần tục quấy nhiễu nữa!

Khi đã vững chắc trong Sơ thiền, Mahà Moggallàna tiến lên Nhị thiền. Trong Kinh Samyutta Nikaya (Tạp A Hàm), đoạn hai mươi dòng một, gọi là “Thanh tịnh tâm”, bởi vì trong ấy mọi ý nghĩ đều biến mất rồi từ đó ngài phát triển tới đệ Tứ thiền một cách tuần tự (Samyutta Nikàya No 40, F2).

Sau này chính Mahà Moggallàna tiết lộ ngài đã thực hành thiền định bằng phương pháp “Nhị lập”: trước tiên là phát triển Định lực (Iddhipada, theo Samyutta Nika(ya N0 51, 31 ([1]). Rồi sau phát huy Quán lực (Vimokkha, theo Theragatha 1172).

Trên con đường tiến đến giải thoát hoàn toàn bằng Tuệ giác ngộ (Panna(vimutti), các bậc Thiền (Jha(na) có thể xem như những giai đoạn “Sử dụng thần lực”, một mặt đưa đến nhiều khả năng siêu nhiên, mặt khác mở được cửa ngõ bước vào ánh sáng toàn giác.

Phương pháp tu chứng Nhị lập này là bí quyết then chốt để Mahà Moggallàna trở thành một bậc A-la-hán (Arahatta) thượng thặng giữa các hàng Thanh-văn giác.

Nói cách khác, chúng ta có thể tóm lược rằng: Để đạt đến giải thoát tâm linh (Ceto Vimutti), chính thiền định đã giúp cho Mahà Moggallàna trước tiên loại trừ tám pháp thế gian([1]) (Vimokkha), sau đó khi thuần thục tuyệt mức trong các bậc thiền Vô sắc (Aru(pa Jha(na), ngài mới có đủ “Quán lực” tận trừ những sở định vi tế (Như phỉ lạc trong quả thiền chẳng hạn).

Nghĩa là ngài tiến mạnh trên con đường giải thoát bằng thiền pháp Nhị lập, tức là vững vàng trong an trụ (Sama(dhi) rồi mới đủ định tâm phát triển Minh sát (Ubhago Bhaga Vimutti) – (Xem chú giải trong Pàli Dictionary của Nyànatolika). Minh sát bắt đầu từ Tứ thiền về sau.

Khi lấy đệ tứ thiền làm nền tảng Minh sát. Hành giả sẽ giữ tâm được trong trạng thái Vô ký (tức là tâm nào đến thì tự thấy nó đến, tâm nào biến đi tự thấy nó đi, vô tư không lay động), hoàn toàn vượt ra khỏi mọi ý niệm, sanh từ vạn pháp hữu vi (điều kiện). Nhờ đó, các pháp giác ngộ mới được soi sáng. (Theo Samyutta Nikàya: Tạp A Hàm số 40, 9 )

Theo chú giải, trạng thái “Tâm vô ký” (Anicca Ceto Sama(dhi) là trình độ tâm đã ổn định bậc cao, vượt ra ngoài tâm ghi nhận những đối tượng ngoại cảnh cũng như nội cảnh (Tư duy). Tâm ở trình độ này chỉ còn giác tỉnh biết rõ mình đang vừa sống và vừa chết từng sát na (Vipassana Samadhi), nên ý thức hoàn toàn được giải trừ khỏi những ảo ảnh vô thường, tham ái v.v…

Sự dẫn giải này trong Kinh điển quả phù hợp với lối tu chứng của ngài Mahà Moggallàna khi ngài áp dụng pháp tu thiền Nhị lập. (An trụ rồi Minh sát) đã được nhiều học giả Phật giáo bàn đến bằng hai danh từ Phạn ngữ “Animitta Cetovimutti”. (Theo Majjhima Nikàya: Trung A Hàm số 43, The Wheel, xuất bản)

Tuy nhiên, khi thành công trong Thiền định (Sama(dhi) hành giả không khéo lại bị rơi vào vòng “một ý niệm vi tế” là tưởng ta được giải thoát, không còn bị các pháp hữu vi chi phối, vì hành giả lúc này đang “trực nhận” một loại phỉ lạc rất siêu thoát. (Không phải thứ phỉ lạc do dẹp được tám pháp thế gian, mà là một loại phỉ lạc trong trụ pháp “Thanh tịnh xuất thế”).

Đây cũng là một loại dính mắc và là một sự dính mắc vô điều kiện, và rất khó kiến nhận. Loại dính mắc này chính là bức màn che áng sự giác ngộ sau cùng. Nó chỉ có thể bị loại trừ bằng thanh lọc siêu đẳng, mà ngoài các bậc Toàn giác Toàn tri ra, không có một trí tuệ thế gian nào có thể diễn tả được.

Nhưng ngài Mahà Moggallàna nhờ Đức Phật đã hỗ trợ, nên có thể vẹt được cái màn che áng vi tế sau cùng này, để đạt đến phẩm cách hoàn toàn giải thoát. Giải thoát một cách rốt ráo và tròn đủ Tuệ trực giác từ mọi khía cạnh, ngay cả khía cạnh dẹp được cảm thức là “mình đã giải thoát”.

Chính Mahà Moggallàna đã xác nhận rằng “Sự đạt được quả vị Giác ngộ của một Sa-môn nếu có Đức Phật hỗ trợ là một sự chứng quả tuyệt luân nhất!”. Kinh gọi sự chứng quả này (Maha abhinna), nghĩa là Thần tuệ siêu đẳng, bao gồm cả năm loại thần thông (Panõcalabhĩnna) và sáu “Thức thần trụ” có thể chế phục dễ dàng mọi nhân ác, dù cho nhân ác ấy đến từ một đối thủ nhiều Thần thông nhất trong tam giới.

Sự tu chứng ấy của Mahà Moggallàna đã kéo dài trong một tuần lễ. Thực ra, bảy bữa ấy là bảy bữa phối hợp tất cả những gì mà ngài đã rèn luyện trong nhiều kiếp qua, vì đạo quả ngài đạt được là một loại đạo quả độc đáo, rất ít Thánh nhơn đạt được.

Chúng ta có thể tưởng tượng nổi độ tinh tấn và lòng quả cảm của ngài Mahà Moggallàna trong suốt thời gian ngắn ngủi này. Bởi vì vai trò một đại Thanh-văn giác là vai trò mà những phẩm hạnh siêu nhiên gặt hái được, cần một công phu tu tập thượng thừa mới xứng đáng, và mới có thể vượt thắng nổi những xiềng xích ràng buộc vô cùng mạnh mẽ đã mọc rễ một cách vi tế trong tâm.

Kinh có thuật lại rằng: Đức Phật, trong bốn giờ thuộc khắc thứ nhứt đêm tiến lên phẩm hạnh Toàn giác, Ngài đã nhớ được chín mươi mốt kiếp thế gian. Đối với một đấng Giác ngộ, sự “có mặt” của không gian và thời gian sẽ bị tan biến khi cường độ giải thoát đang tiếp diễn. Tương tự như thế, Mahà Moggallàna cũng vừa thể nhận sự “vượt khỏi” thời gian và không gian để tổng kết công đức của suốt bao nhiêu kiếp chỉ trong vòng một tuần lễ. Ở đây, khái niệm về không gian và thời gian hoàn toàn bị xóa.

Một phàm nhân đang bị cầm tù bởi năm giác quan và ý thức nhiễm đầy dục vọng không thể nào hiểu nổi chỉ trong vòng bảy ngày, một Thanh-văn giác Thượng thừa như Maha Moggallàna đã có thể vượt dòng thời gian và vượt khoảng không gian vô hạn để trực nhận tính Không.

Mahà Moggallàna (Mục-kiền-liên) còn nói rõ trong Kinh Anguttara Nikaya, cuốn IV (trang 167-168) rằng: Tuy ngài đã đắc quả Thánh nhanh chóng bằng tinh tấn vượt kỷ lục (Khipp-bhinna), nhưng trên thực tế trong một tuần lễ ấy ngài đã “tiến hóa” khó khăn (Dukkha Patipada) vì phải nhờ tới sự hỗ trợ dồi dào (Sasankha(a) của Đức Phật. Còn Sàriputta (Xá-lợi-phất) thì khác. Mặc dù, vị đại Thanh-văn giác thứ hai này đã đắc Thánh quả chậm hơn một tuần lễ (tức trong mười bốn ngày) nhưng nhờ vậy mà tiến hóa của ngài thoải mái hơn (Dukkha Patipada). Mahà Moggallàna (Mục-kiền-liên) tiến lên Thánh quả nhanh hơn Sàriputta (Xá-lợi-phất) vì nhờ có Đức Phật đích thân hướng dẫn và hỗ trợ. Còn Sàriputta, Phật không làm vậy là vì Ngài biết rằng Sàriputta có trí tuệ đặc biệt, có thể tự mình tiến lên Thánh quả một cách độc lập.

7.     CA CHIÊN DIÊN – LUẬN NGHỊ ĐỆ NHẤT

Ở miền Nam Ấn Ðộ nước A Bàn Ðồ, thôn Di Hầu thuộc dòng Bà La Môn, có một gia đình rất giàu sang và danh giá, được nhiều người kính nể, Ngài Ca Chiên Diên được sinh ra trong gia đình này. Ca Chiên Diên là con thứ, thân phụ là một quốc sư đương thời, Ca Chiên Diên là họ, tên Ngài là Na Da Là, về sau Ngài rất nổi tiếng nên mọi người dùng họ để gọi thay. Ca Chiên Diên cũng có một người anh cũng thông minh tài trí theo cha học đạo Bà La Môn. Ðể uyên bác hơn, Ca Ca đi nhiều nơi tham học đạo lý với các Bà La Môn danh tiếng. Sau khi đã học hết kinh điển của Bà La Môn, Ca Ca trở về cố hương với ý định lập đàn tràng thuyết giảng Kinh Vệ Ðà.

Ngày xưa để được gọi là một nhà nho đúng nghĩa, ngoài thông hiểu tứ thư, ngũ kinh, biết làm thơ phú, nhà nho còn phải biết thêm bốc, y, lý và số. Về Phật giáo, để được toàn bích ngoài thông hiểu nội điển, một tăng sĩ cần phải biết thêm Thanh minh, Nhân minh, Công xảo minh và Y phương minh gọi chung là Ngũ Minh. Nếu không được như thế, tối đa cũng phải biết 4 hoặc 3, tối thiểu phải biết hai minh. Vì trong khi truyền đạo, dù thuộc kinh điển nhưng trình bày không mạch lạc, khúc chiết, lý luận không biện chứng, logic, thì khó mà thuyết phục được người nghe. Mặt khác, nếu thuộc kinh điển có lý luận, nhưng giữa diễn giả và thính chúng ngôn ngữ không đồng, phải nhờ đến thông dịch, diễn giả cũng không thể truyền đạt hết tư tưởng, quan điểm cho thính chúng. Bởi thế để trở thành một người thuyết pháp nhà nghề, ngoài am tường nội đIển, tối thiểu các tăng sĩ cần rèn luyện, biết thêm ngôn ngữ và có kiến thức phổ thông. Thời Phật còn tại thế, trong số 10 đại đệ tử, Ca Chiên Diên (Katyayana) không những chỉ thông hiểu những tư tưởng triết học đương thời, am tường giáo pháp của Đức Phật, mà còn có tài luận nghị khiến ai vấn nạn cũng đều thán phục. Phật và Thánh chúng phong tặng cho Ngài là bậc Luận Nghị Ðệ Nhất.

Trong hàng đệ tử của Phật, có hai nhân vật biện luận tài tình đó là Ngài Phú Lâu Na và Ngài Ca Chiên Diên, nhưng khi thuyết pháp Phú Lâu Na thiên về số đông còn Ca Chiên Diên lại thích lý luận với từng người một. Một hôm, Ngài đến phía Tây Ấn Ðộ, nước Ma Thâu (Mathian) truyền đạo, sau khi xem xét dân tình phong tục địa phương, lề lối sinh hoạt xã hội, Ngài đến yết kiến vua nước Ma Thâu. Thấy Ca Chiên Diên bỏ dòng Bà La Môn theo dòng Sát Ðế Lợi là một chuyện lạ, vua Ma Thâu hỏi Ca Chiên Diên:

Ở đời ta chưa thấy ai bỏ dòng họ cao quý sinh từ đầu Phạm Thiên, để đi theo dòng họ thấp hơn như Tôn giả. Tai sao lại như thế? Có ai ép buộc chăng?

Ðại vương! Tôi cảm nhận Ðức Phật là bậc đại Thánh, trước đây cậu tôi là Tiên A Tư Ðà khuyên tôi, tôi rất nghi ngờ, có thể là không xác thực, vì tôi cũng nghĩ như Ðại vương, trong đời ai có thể hơn dòng dõi Bà La Môn được. Nhưng khi gặp Phật, nghe Phật khai thị, tôi tự nghĩ trước đây mình vô cùng lầm lẫn. Với luật Manu xã hội được chia thành 4 đẵng cấp: – Bà La Môn, Sát Ðế Lợi, Phệ Xá và Thủ Ðà La. Luật này có ra, chẳng qua là do dòng Bà La Môn muốn củng cố uy thế mà đặt ra. Giữa con người với con người, ai cũng dòng máu đỏ, nước mắt mặn, ai cũng chào đời với tiếng khóc, chưa hề có dấu tinka ở trán, hay các vòng vàng ở cổ tay, cổ chân. Lớn lên nếu được học, ai cũng có thể thuộc Kinh Vệ Ðà, vào thương trường ai cũng có thể có thể biết buôn bán. Sống ở rẫy bái rộng đồng ai cũng có thể biết cày cấy, được chỉ nghề nghiệp ai cũng có thể sản xuất ra vật tiêu dùng, người không chịu học hỏi tất sẽ ngu dốt. Do đó, có dòng này dòng khác là do luật Manu và xã hội gán ép cho con người. Hơn nữa thiện ác hay cao quý, thấp hèn người dòng nào lại không có. Thế nhưng, trong nhà tù, kẻ làm tôi tớ đều là người thuộc dòng thứ dân. Còn trong dòng Bà La Môn, Sát Ðế Lợi không hiếm người phạm pháp, làm điều độc ác nhưng nhờ được che chở bởi dòng họ, người bất lương tội lỗi vẫn ăn trên ngồi trước, thật là bất công! Thái tử Tất Ðạt Ða, người đã thấy rõ thực trạng của tư tưởng tôn giáo, xã hội Ấn Ðộ, nên đã từ bỏ cuộc sống vương giả để đi tìm đạo và thành đạo. ở đời từ xưa đến nay, có mấy ai dám từ chối địa vị cao sang quyền quý và lắm lạc thú như Phật Cồ-đàm? Hiện nay Phật đang chủ xướng thuyết bình đẳng để xã hội không có cảnh người bóc lột người, người hà hiếp người, người quá dư thừa kẻ làm đầu tắt mặt tối mà vẫn đói khổ. Trong giáo đoàn của người mọi người đều bình đẳng, ai có phẩm hạnh cao tất được tôn trọng, dù đó là người thuộc dòng hạ tiện.

Với tài luận nghị Ngài đã thao thao thuyết phục vua Ma thâu, một cách biện chứng, lôgic, bởi thế nhà vua đã thể hội giáo pháp bình đẳng của Phật, qua lần gặp Ca Chiên Diên nhà vua cũng thừa nhận Ngài là bậc biện luận đại tài, và yêu cầu được giới thiệu để quy y Phật. Khi trở thành một phật tử, vua Ma Thâu áp dụng phép bình đẳng của Phật để điều hành việc nước. Tất cả tù nhân ở các trại giam đều được phóng thích, ai phạm pháp, có tội đều được đưa đi giáo dục, dù đó là người thuộc dòng Bà La Môn hay Sát Ðế Lợi. Nhờ thế cả nước mọi người đều vui mừng, dân tình an cư lạc nghiệp, nhân dân nước Ma Thâu cũng rất cảm kích giáo pháp từ bi, trí tuệ, bình đẳng của Phật.

Ca Chiên Diên đem giáo pháp bình đẳng của Phật truyền bá khắp nơi, khiến mức độ tôn kính Bà La Môn trong nhân dân ngày một giảm sút, bởi thế các Bà La Môn rất oán hận Ca Chiên Diên và luôn luôn tìm cơ hội để đả kích. Một hôm có một Bà La Môn khá giỏi biện luận, từ xứ Câu Thi Na xa xôi, tìm đến Ba La Nại kêu đích danh Ca Chiên Diên để hạch hỏi:

  • Này Ca chiên Diên! Ta nghe ngươi bỏ Bà La Môn giáo để theo ông Cồ Ðàm phải không? Người phản bội tín ngưỡng lỗi nhiều hay ít? Ông lại đem giáo pháp của Phật thuyết dụ các Bà La Môn, thật là vô lễ.

Nghe Bà La Môn kết đủ thứ tội một cách ầm ĩ, với đức tính điềm tĩnh nhưng lý luận sắc bén, Ca Chiên Diên chậm rãi trả lời:

  • Ông xem tấm áo cà sa trên thân tôi là biết tôi đã cải tôn giáo rồi, cần gì phải đặt vấn đề. Với tín ngưỡng có nhiều thần quyền, có luật lệ mất bình đẳng, người theo tín ngưỡng đó có đáng để tuân hành không? Người đã biết con đường chánh đạo có cần hướng dẫn cho gia đình bạn hữu, người theo tà giáo trở về nẻo chính hay không?

Chưa chịu thua vì mục đích đến để hạ bệ Ca Chiên Diên, lão Bà La Môn hỏi:

  • Này Ca Chiên Diên! Ngươi là Tỳ kheo, sao không biết giữ oai nghi tế hạnh, trước đây đã không cung kính một lão Bà La Môn trưởng thượng?

Ca Chiên Diên điềm tĩnh trả lời:

  • Giá trị con người không ở tuổi tác mà là ở phẩm hạnh, tôi đã quy y Phật, quy y pháp của Phật, cho nên đương nhiên tôi không thể chấp nhận tà thuyết vái lạy thầy tà bạn ác.

Nghe Ngài đối đáp sắc bén, lão Bà La môn khâm phục và xin được giới thiệu để ra mắt Ðức Phật.

Một buổi sáng sớm trên đường đi khất thực, một Bà La Môn chận Ca Chiên Diên lại và hỏi:

  • Tôi nghe tiếng Tôn giả đã lâu nay mới gặp, thật là may mắn. Hiện giờ trong tư tưởng tôi có một thắc mắc mà không giải đáp được, xin Tôn giả chỉ giúp.

Ông cứ tự nhiên nói, Ngài đáp.

  • Thưa Tôn giả trên thế gian này tôi thấy Sát Ðế Lợi tranh cãi với Sát Ðế Lợi, Bà La Môn tranh cãi với Bà La Môn. Nguyên nhân gì mà họ lại tranh cãi như thế?
  • Ca Chiên Diên đáp: – Vì tham dục mê hoặc.
  • Thưa Tôn giả! còn Sa Môn với Sa môn tranh cãi vì lý do gì?
  • Vì ngã kiến và pháp chấp.
  • Thế trên cõi đời này ai là người không bị tham dục, mê hoặc và ngã kiến pháp chấp để nương theo?

Chẳng do dự Ngài đáp: – Ðức Phật!

Ðạo sĩ Bà La Môn yêu cầu Tôn giả cho được gặp Phật và quy y theo Ngài.

Có một lần, Tôn giả gặp một ngoại đạo theo chủ trương “đoạn kiến”; vị ngoại đạo “đoạn kiến” này chuyên môn cho rằng tất cả sự việc đều là “đoạn”—không có gì cả, tất cả đều là không. Ông nói: “Trong Phật giáo của Ngài cho rằng “con người chết rồi vẫn còn kiếp sau”; còn đạo của tôi thì nói rằng “con người chết rồi không có kiếp sau”. Tôi có một minh chứng muốn nói cho Ngài nghe!” Minh chứng gì vậy? Ông bảo: “Ngài nói con người chết rồi còn có kiếp sau, phải đi thọ khổ; nhưng theo tôi được biết thì những người chết rồi, không có ai trở về nói lại là mình phải chịu khổ gì! Tôi chưa hề thấy qua! Thế thì tại sao Ngài nói là có kiếp sau? Người chết thì giống như đèn hết dầu, không hề có kiếp sau!”

Tôn giả bèn trả lời vị ngoại đạo rằng: “Ồ! Ông nói người chết không trở lại à? Giả như có người phạm tội, bị người ta bắt đi để luận tội, còng lại và đưa vào nhà tù, thì người ấy có thể trở về nhà được chăng?”

Vị ngoại đạo nghe xong liền hỏi Tôn giả Ca Chiên Diên: “Ngài nói người chết đi, giống như kẻ phạm tội bị trói lại đưa vào nhà tù, cho nên không được tự do, không thể trở về; thế nhưng nếu như nói được sanh lên trời, thì tôi cũng chưa thấy người nào được sanh lên trời mà trở lại bảo với mọi người: ‘Tôi được sanh lên trời rồi!’ Trường hợp này phải giảng như thế nào đây? Đọa địa ngục thì không được tự do, không thể trở về; nhưng sanh lên trời thì được tự do, đáng lẽ những người ấy phải trở lại nói sơ về tình hình của mình chứ! Tại sao những người được sanh lên trời, cũng không thấy có ai trở lại cả?”

Tôn giả Ca Chiên Diên đáp rằng: “Ồ! Ông nói rất có lý! Nhưng ông phải biết, người được sanh lên trời giống như người bò ra khỏi nhà xí, được dùng nước trong tẩy rửa sạch sẽ; thế thì thử hỏi người ấy còn muốn chạy vào nhà xí, để phẩn dính lên người nữa không?” Chao ôi! Vị ngoại đạo này không còn lời gì để nói!

Tôn giả Ca Chiên Diên lại bảo: “Còn một điều nữa là một ngày một đêm trên cõi trời Đao Lợi dài bằng 100 năm ở cõi nhân gian chúng ta; ông thử nghĩ xem: Sau khi được sanh lên cõi trời rồi, người ấy còn phải sắp xếp công việc của mình, bày trí lại tất cả, có phải không? Đợi đến khi người ấy nghỉ ngơi xong, muốn quay trở lại, thì lúc ấy ông đã chết mất rồi! Một ngày một đêm ở chỗ của người ấy thì bằng 100 năm ở nhân gian, thời gian năm ba ngày người ấy ở trên đó sẽ bằng với mấy trăm năm ở cõi người chúng ta; lúc ấy ông đã chết từ lâu, xương cốt đều tan rã, ông còn có thể biết được người ấy trở về hay không?” Vị ngoại đạo nghe xong cũng không còn lời nào để nói.

Cho nên, Tôn giả Ca Chiên Diên được tôn xưng là bậc “Luận nghị đệ nhất”. Mười đệ tử lớn của Phật, mỗi vị đều có một sở trường rìêng, sở trường của Tôn giả Ca Chiên Diên chính là luận nghị, chuyên môn biện luận về đạo lý. Quý vị có thắc mắc về đạo lý gì muốn hỏi Tôn giả, với tài biện luận của mình, Tôn giả có thể nói thao thao bất tuyệt, khiến cho người nghe say sưa thích thú.

BÀI K THN BÍ

Trước khi gia nhập vào tăng đoàn theo tu học với đức Phật, Ca-chiên-diên tự cho mình đã đắc đạo, xứng đáng cho người đời cúng dường, đâu cần mong đợi đức Phật xuất thế làm gì. Do đó, sau khi vị thầy thân thiết của Ca-chiên-diên qua đời không lâu, ông chẳng còn cầu đảo để sớm gặp Phật-đà.

Thời gian sau, tại miền đất hoang gần thành Ba-la-nại, người ta đào bới được nhiều di tích của một cổ thành mấy ngàn năm trước. Trong ấy có một tấm bia đá trên mặt khắc một lối chữ mà chẳng ai biết là thứ chữ gì. Dường như đó là một bài kệ, nhưng không ai đọc ra. Thiên hạ đồn rằng: Ai mà đọc được tấm bia đá đó, chắc chắn vị đó là một bậc đại giác mới hiểu được như vậy.

Một hôm, quốc vương Ba-la-nại bảo các đại thần:

– Nước chúng ta được một số bảo vật lưu truyền từ cổ đại, trong đó có tấm bia đá ghi kệ văn, các ngươi phải mau mau tìm hiểu cho ra. Nếu không, các nước lân cận sẽ cười nước chúng ta không có người trí. Nội trong bảy hôm, nếu như không ai hiểu được bài kệ ấy, ta sẽ cách chức các khanh.

Mệnh lệnh của nhà vua tuy thật nghiêm khắc, nhưng các đại thần từ xưa đến giờ chưa từng thấy thứ chữ này, đều lấm lét nhìn nhau chẳng biết phải làm gì. Sau cùng, các quan dâng kiến nghị lên nhà vua, xin treo bảng thông báo cho toàn quốc, ai đọc được bài kệ trên bia cũ sẽ được trọng thưởng mỹ nữ và tài vật châu báu.

Yết thị của nhà vua nêu ra, tin tức bay đến tai Ca-chiên-diên. Thầy lập tức nhớ đến cậu A-tư-đà đã từng dạy cho mình các thứ chữ trên mọi quốc gia, và những thứ chữ của chư Thiên mình cũng được học rất nhiều. Cho nên thầy rất mực tự tin ra gỡ bảng.

Quả thật, Ca-chiên-diên đọc được toàn bộ bài kệ. Thầy nói đó là thứ văn tự của Phạm Thiên, người không có thần thông chẳng thể nào thấu rõ được. Thầy bèn phiên dịch bài kệ ra cho quốc vương nghe, ý tứ như thế này:

Ai là vua trong các vị vua?                                    Làm sao để lìa cấu uế?
Ai là thánh trong các bậc thánh?                          Làm sao để đạt được Niết-bàn?

Thế nào là người ngu?                                       Ai là kẻ chìm trong biển sanh tử?
Thế nào là bậc trí?                                              Ai là người tiêu diêu nơi cõi nước giải thoát?

Lâu nay, mọi người đọc không ra bài kệ thần bí, Ca-chiên-diên đã vén tấm màn bí mật lên, và toàn quốc đều truyền tụng rất nhanh chóng. Tuy ai nấy đều biết đọc suông như thế, nhưng chẳng người nào hiểu được ý chỉ của bài kệ ra sao, ngay cả Ca-chiên-diên cũng không giải đáp được.

Bài văn trên thạch bia ấy, mỗi câu là một nghi vấn trừu tượng, nếu đem các học thuyết đương thời để giải đáp cũng chỉ được phần nào, còn muốn thấu đáo toàn bộ vấn đề thiệt là không có lời đáp. Nhà vua tuy công nhận sức bác học của Ca-chiên-diên, thông hiểu cả văn tự Phạm Thiên, nhưng thầy không giải thích được nghi vấn của bài kệ, đã lưu lại một dấu hỏi lớn. Nhà vua lại ra lệnh treo giải thưởng, yêu cầu học giả trong thiên hạ đến khai thông vấn đề.

Ca-chiên-diên không chịu thua, thầy bèn hứa với nhà vua nội trong bảy ngày nhất định sẽ trở lại giải đáp ý chỉ này.

THNH GIÁO ĐC PHT

Ca-chiên-diên đã hứa chắc với nhà vua, trở về khảo cứu triệt để, thiệt là cái ý chỉ của bài kệ chẳng thể dùng trí tưởng mà truy tầm cho được. Phen này chỉ có một bậc đại giác ngộ mới có thể giải đáp được thôi.

Đến lúc không còn biện pháp gì nữa, Ca-chiên-diên phải đi cầu cứu người khác. Ban đầu thầy đến chỗ Phú-lâu-na, Ca-diếp thỉnh giáo, sau đó lại tìm đến từng người trong nhóm lục sư ngoại đạo học hỏi, mà ý kiến của họ chỉ rất thô thiển, cũng giống như Ca-chiên-diên một thứ, chẳng phải là ý nghĩa đích thực của kệ văn.

Cùng đường hết lối, Ca-chiên-diên mới nghĩ đến Phật. Nghĩ đến Phật, thầy lại càng không muốn đi thỉnh giáo. Ông nghĩ: “Bài kệ này, văn tự cõi trời, các lão Bà-la-môn trưởng thượng, uy quyền một cõi mà còn không biết, Cồ-đàm tuổi còn trẻ làm sao mà biết được?” Sau cùng, nhớ đến lời cậu trước khi tạ thế, đã hai ba phen đinh ninh căn dặn, sau khi Phật thành đạo, nhất định mình phải đi tìm Ngài tu tập. Nhưng Cồ-đàm tuổi tác không bao lăm, làm sao thành tựu được công hạnh Phật-đà viên mãn ư? Sau rốt thầy mới đả thông tư tưởng, ngộ đạo không thể căn cứ trên tuổi tác lớn nhỏ mà quyết định, và nhắm hướng Lộc Dã Uyển đi tới.
đề đó. Sự chứng ngộ của Ngài là một giải đáp hết sức sống động cho câu hỏi đã nêu.

Ca-chiên-diên bái kiến đức Phật, mới biết lời nói của cữu phụ không sai. Thầy chưa biết được Trí tuệ của Phật như đại hải, chỉ mới thấy tướng hảo trang nghiêm của Ngài, đã khởi lòng cung kính vô biên.

Ca-chiên-diên chắp tay, tụng qua bài kệ một lượt, cầu mong đức Phật giải đáp cho.

Đức Thế Tôn chẳng cần suy nghĩ, như đại chung vừa chạm nhẹ đã vang tiếng, Ngài dùng kệ đáp lại rằng:

Vua trong các vua là vua cõi trời thứ sáu.
Thánh trong các thánh là đức Phật đại giác.
Bị vô minh nhiễm ô gọi là kẻ ngu.
Hay diệt hết các phiền não là bậc trí.
Tu đạo, trừ tham, sân, si tức là lìa cấu uế.
Hoàn thành giới định huệ tức chứng Niết-bàn.
Người chấp trước nơi ngã pháp chìm trong biển sanh tử.
Người chứng được pháp tánh duyên khởi dạo chơi trong cõi giải thoát.

Ca-chiên-diên rất thông minh, nghe Phật đáp xong, mỗi câu mỗi lời đều thâm nhập vào tạng phủ, mối nghi ngờ ám ảnh trong tâm đều được ánh sáng Trí tuệ dẹp tan. Ông vui mừng lặng đi giây lâu không nói nên lời, sau cùng mới tụng lại bài kệ của Phật và hướng về phía Ngài đảnh lễ. Mối cảm kích của Ca-chiên-diên chẳng lạ gì, vì vừa nghe lời đức Phật thầy liền khai ngộ, theo đó mà thông hiểu chân lý.

Đức Phật rất ưa thích ông thầy Bà-la-môn này, Ngài khen Ca-chiên-diên thiện căn sâu dày, và lại dạy đạo lý cho một phen nữa. Ca-chiên-diên lễ tạ xong, liền đem bài kệ đáp của đức Phật trở về thuật cho nhà vua nghe. Sau đó tuyên bố với các tín đồ của mình rằng từ nay thầy sẽ quy y đức Phật, làm đệ tử bậc đại Thánh.

Một hôm, Tôn giả đi giáo hóa tại một nước rất xa xôi tên Ba-la-lê-viên và cư trú trong rừng trúc của một trưởng giả.

Đương lúc đó, vua nước ấy – Văn Đồ Vương gặp một biến cố đau đớn, đó là vị đệ nhất vương phi mà vua rất yêu dấu chẳng may mệnh bạc. Nhà vua buồn khổ muôn phần, bỏ ăn bỏ uống, không ngó ngàng gì đến triều chánh, ngày nào cũng khóc lóc thảm thiết.

Người đã chết, dù là bậc quyền thế tôn quý như vua chúa, cũng không thể bảo sống trở lại được. Vua Văn Đồ thì không thể nào quên tình ân ái cũ, ra lệnh các quan đại thần ướp xác vương phi và quàn trong cung, mỗi ngày nhà vua đều đối diện tử thi mà than thỉ:

– Ôi! Cái miệng xinh kia sao không nói chuyện với trẫm? Đôi tay kia sao không ôm trẫm? Vương phi yêu dấu ôi! Sao không chịu mở mắt nhìn trẫm?

Nỗi bi ai của nhà vua cứ triền miên bất tận như thế, các quan đại thần cũng chẳng có cách gì, họ khuyên can nhà vua xin đừng buồn thảm quá độ, nhà vua chẳng để tai lời nào, lại nói: “Muốn nhà vua hết buồn, cách tốt nhất là làm sao cho vương phi sống lại” nhưng chuyện ấy ai mà làm được.

Trong lúc bối rối, bế tắc, các đại thần chợt nghĩ ra: Tôn giả Ca-chiên-diên hiện đang giáo hóa ở đây, hy vọng nơi oai đức và tài biện luận khéo léo của tôn giả, chắc thuyết phục nhà vua có thể dứt bỏ mối bi ai, lấy lại dũng khí mà chỉnh đốn triều ca.

Các quan dâng kiến nghị lên vua:

– Muôn tâu đại vương! Trong nước ta hiện nay có một đại đệ tử của đức Phật đang du hóa, đó là tôn giả Ca-chiên-diên, một bậc đại thần thông, đại oai đức, Trí tuệ uyên bác không vấn đề gì không hiểu, ngay cả văn tự Phạm Thiên trên tấm bia cổ Ngài cũng biết được! Tôn giả biện tài vô ngại, mỗi khi nói chuyện gương mặt thường nở nụ cười. Xin thỉnh đại vương hãy đến gặp Ngài, chắc chắn sẽ có nhiều lợi ích.
Vua Văn Đồ nghe tâu, vội hỏi:

– Thần thông của người ấy có thể gọi vương phi ta sống dậy không?

Các đại thần lúng túng, đều chẳng biết trả lời ra sao, trong ấy có một vị đã từng nghe tôn giả thuyết pháp, cung kính đáp:

– Muôn tâu đại vương! Có thể hay không thể làm cho vương phi sống dậy, điều ấy chúng thần không dám trả lời chắc, chuyện ấy chỉ có đến thỉnh giáo tôn giả Ca-chiên-diên mới biết được thôi.

Vua Văn Đồ chuẩn y lời tâu của các quan liền lập tức ban lệnh đi ngay. Nhà vua ngự xe loan, mang theo nhiều lễ vật đến rừng trúc. Gặp mặt Tôn giả vua liền yêu cầu cứu mạng cho vương phi hồi sinh.

Ca-chiên-diên bẻ một nhánh cây gần đấy, nói với nhà vua:

– Này đại vương! Hãy đem nhánh cây này về cung, mà giữ cho nó tươi xanh hoài, đừng khô héo, được không?

– Điều đó không thể được, cây đã lìa cội rễ, làm sao mà sống, mà xanh tươi.

– Vậy thì phu nhân đã hết nghiệp, thọ mạng đã chấm dứt, mà bảo sống trở lại, chuyện ấy làm được sao?

Ca-chiên-diên hỏi trở lại, vua Văn Đồ ngay lúc đó liền giác ngộ lý vô thường, người đã chết không thể sống lại.

Tôn giả biết tâm nhà vua, liền thuyết pháp tiếp theo:

– Này đại vương! Ngài là vua một nước, Ngài cai trị toàn dân, toàn thể dân chúng là người của nhà vua chớ chẳng riêng một mình vương phi là của vua đâu. Đại vương nên đem tấm lòng thương một mình vương phi mở rộng ra thương khắp hết người trong thiên hạ, dùng từ bi thay thế tình yêu riêng tư, thì quốc gia mới hưng thịnh, dân chúng sẽ ủng hộ nhà vua mãi mãi.

Vua Văn Đồ nghe xong, bừng tỉnh cơn mê, dứt hết mọi buồn thương, đảnh lễ cáo biệt tôn giả, trở về cung an táng vương phi, chỉnh đốn triều chánh, thương dân như con. Từ đó cả nước mừng vui, ai nấy đều cảm kích tài khéo thuyết pháp của Tôn giả Ca-chiên-diên.

Ngày nay khói lửa tràn lan trên thế giới, chúng ta mong mỏi tinh thần Nghị luận đệ nhất của Tôn giả Ca-chiên-diên sống lại trong Tăng đoàn Phật giáo để thuyết phục các nhà lãnh tụ hiếu chiến kia.

8.     A NA LUẬT – THIÊN NHÃN ĐỆ NHẤT

A Na Luật đã được sinh ra trong vương tộc, vốn là em chú bác ruột của Phật. Sau khi vua Tịnh Phạn (Suddhodana, phụ hoàng của đức Phật) thăng hà, người lên ngôi kế vị là đại tướng Ma Ha Nam (Mahanama), ông này chính là anh ruột của tôn giả A Na Luật. Ông là một cư sĩ thuần thành, thường cúng dường cơm áo và thuốc men cho tăng chúng.

Vài năm sau khi thành đạo, đức Phật về cố hương Ca Tì La Vệ để thăm hoàng tộc và giáo hóa chúng sinh. Sức cảm hóa của thật mạnh mẽ, cho nên chẳng bao lâu, đã có rất nhiều thanh niên trong hoàng tộc xin xuất gia theo Phật. Trước hết là thái tử Nan Đà (Nanda, người sẽ thừa kế ngôi vua của vua Tịnh Phạn), rồi kế tiếp là hoàng tôn La Hầu La (Rahula), và sau nữa là các thanh niên khác của hoàng tộc.

Lúc bấy giờ vương tử A Na Luật đã trưởng thành. Chàng không còn là một cậu bé “không biết gì” của tuổi ấu thơ nữa, mà đã trở nên là một thanh niên chững chạc, nghi hiểu đường đường, có được những hiểu biết chín chắn về cuộc sống thế gian. Phong trào xuất gia của các thanh niên trong hoàng tộc đã làm cho tâm hồn chàng bị chấn động. Chàng cũng lập chí xuất gia, bèn nói anh là Ma Ha Nam:

– Anh ạ! Vừa rồi Phật về thăm hoàng cung, đã có nhiều anh em trong bộ tộc Thích-ca theo Phật xuất gia. Em nghĩ, làm một vị sa môn, đem pháp cam lồ của Phật truyền bá bốn phương, thì cuộc sống ấy có ý nghĩa biết bao! Thái tử Nan Đà đã bỏ người vợ sắp cưới vô cùng xinh đẹp là Tôn Đà Lị để đi xuất gia; vương tôn La Hầu La tuổi nhỏ như vậy mà cũng biết theo Phật tu học. Nếu hai anh em mình không có một người đi xuất gia thì khó coi lắm ý anh thế nào?

Ma Ha Na lúc bấy giờ đã là một tướng quân anh dũng của triều đình vua Tịnh Phạn, nghe A Na Luật nói thế thì trả lời:

– Em nói rất hợp ý anh. Chính anh cũng muốn gặp em để bàn chuyện này. Trong hai anh em mình, nhất định phải có một người đi xuất gia. Vậy thì sự hiếu dưỡng cha mẹ trong lúc tuổi già xin nhờ em gánh vác, để cho anh được yên tâm xuất gia theo Phật tu học nhé!

A Na Luật lắc đầu lia lịa:

– Anh đi xuất gia không được đâu! Quốc gia đang rất cần những người như anh. Em thì lại khác. Võ học em thua kém anh rất xa. Vả lại, hiện giờ em rất nhàm chán nếp sống vương giả và chỉ thích nếp sống thanh tịnh của tăng đoàn. Xin anh thương, để cho em được xuất gia.

Thấy ý chí xuất gia của em mình quá mạnh, Ma Ha Nam đành chiều theo, để cho A Na Luật đi xuất gia. Nhưng lúc đó Phật đã qui định, những người trẻ tuổi còn cha mẹ, muốn đi xuất gia phải có sự chấp thuận của cha mẹ; cho nên A Na Luật cũng phải xin phép cha mẹ. Nhưng vì lòng thương con quá nặng, đã ba lần chàng xin phép đều bị cha mẹ từ chối cả ba. Cuối cùng, vì sợ chàng làm liều, mẹ chàng đành phương tiện bảo:

– Con hãy đến rủ vương tử Bạt Đề, nếu nó cũng thích xuất gia thì mẹ sẽ cho con cùng đi với nó. Nếu nó không chịu thì con đừng có hi vọng gì nữa.

Sở dĩ bà bảo thế là vì bà nghĩ, việc Bạt Đề đi xuất gia là một việc không thể nào xảy ra được. Số là, sau khi cả Nan Đà và La Hầu La đều theo Phật xuất gia thì vua Tịnh Phạn đã chọn Bạt Đề lập làm thái tử, sẽ thừa kế ngôi vị quốc vương sau này khi nhà vua thăng hà. Như vậy thì chắc chắn Bạt Đề không thể nào đi xuất gia được! Nhưng A Na Luật nào để ý đến điều đó. Khi nghe mẹ bảo thế thì mừng lắm, bèn chạy ngay đến vương phủ của Bạt Đề, bày tỏ ý chí của mình, đồng thời thuyết phục Bạt Đề cùng đi xuất gia. Nói xong, chàng cứ ngồi đó chờ đợi Bạt Đề trả lời.

Trái lại với A Na Luật, Bạt Đề cảm thấy việc xuất gia thật khó thực hiện vô cùng. Làm sao chàng có thể bỏ được bao nhiêu dục lạc và vinh hoa phú quí của thế gian để đi xuất gia làm sa môn! Nhưng đối với một người bạn chí thân và đáng quí mến như A Na Luật thì từ chối cũng không đành. Sau một hồi lâu suy nghĩ, chàng miễn cưỡng nói:

– A Na Luật! Một khi đã xuất gia làm sa môn thì không còn có thể luyến ái dục lạc ở thế gian. Chúng ta tuổi còn rất trẻ, làm sao đủ nghị lực chịu đựng điều đó! Thôi thì bạn hãy gắng đợi thêm bảy năm nữa đi, để cho tôi tận hưởng hoan lạc rồi chúng mình sẽ cùng nhau đi xuất gia.

Tuy biết Bạt Đề có ý chối từ, nhưng A Na Luật vẫn cố gắng thuyết phục bạn bằng cách trưng ra nhiều lí lẽ để chứng minh nếp sống xuất gia cũng rất sung sướng, rất ích lợi. Chàng nói năng khéo léo đến nỗi, từ bảy năm Bạt Đề giảm xuống còn một năm; từ một năm giảm xuống còn một tháng; rồi từ một tháng giảm xuống chỉ còn bảy ngày! Hai người bạn thân thiết đồng ý với nhau là bảy ngày nữa thì cả hai cùng đi xuất gia. Lúc bấy giờ A Na Luật mới chịu vui vẻ chào bạn trở về nhà.

Thời hạn bảy ngày đã qua. Hôm ấy, A Na Luật và Bạt Đề cũng rủ thêm A Nan (Ananda), Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), Kiếp Tân Na, Bà Sa (Vaspa – Vappa) và Nan Đề (Nandi), cả thảy bảy vị vương tử cùng nhau hân hoan rời nhà ra đi. (Có sách nói, trong bảy vị vương tử thì Nan Đà, đã xuất gia ngay khi đức Phật còn ở Ca Tì La Vệ, cho nên lần đi này chỉ có sáu người là A Na Luật, Bạt Đề, Đề Bà Đạt Đa, A Nan, Bà Cữu Bhagu, và Kim Tì La – Kimbila. Họ lại còn dẫn theo chàng thanh niên làm nghề thợ cạo tên là Ưu Ba Li (Upali) cùng đi xuất gia với họ.

Họ dõi theo bước chân hành hóa của Phật và đi thẳng đến đó. Khi đến rừng A Nậu (Anupiya) thuộc ấp Di Na, họ cởi bỏ y phục vương tử, tự mặc áo ca sa, rồi cùng đến ra mắt Phật, Nhưng Phật đã không chấp nhập cho họ gia nhập vào tăng đoàn ngay lúc đó, mà bảo họ ở riêng trong một phòng trống, tĩnh tọa quán tưởng bảy ngày để quên hẳn cái thân phận vương tử tôn quí của mình đi, bấy giờ họ mới chính thức được Phật cho gia nhập tăng đoàn.

Từ sau khi giúp tôn giả vá áo (do mắt ông bị mù). Phật thường ngày dạy cho tôn giả tu tập phép thiền định gọi là “Kim Cang chiếu sáng”, và chẳng bao lâu thì tôn giả chứng được thiên nhãn thông! Kết quả đó đã làm cho tôn giả vô cùng hoan hỉ, và Phật cũng chia sẽ niềm hoan hỉ ấy với tôn giả.

Dĩ nhiên là có nhờ vào oai lực từ bi của Phật, nhưng cũng chính là do sự quyết tâm, trì chí và nổ lực của riêng mình, cho nên tôn giả mới đạt được kết quả cao quí như thế. Bởi vậy tôn giả đã được mọi người trong tăng đoàn hết sức ái mộ và kính trọng. Từ đó, những công việc thường ngày như vá áo, rửa bát, v. v… đã không còn làm cho tôn giả bối rối nữa. Với thiên nhãn thông này, tôn giả có thể trông thấy bất cứ ở đâu, dù xa, dù gần, dù trong, dù ngoài … Những gì mọi người không thể trông thấy được, tôn giả đều có thể thấy.

Tôn giả A Na Luật, một mặt cần cù trong việc hoằng pháp lợi sinh, một mặt vẫn tinh tấn trong công phu tu học. Một hôm, trong lúc thiền tọa tại một làng nọ thuộc nước Chi Đề (Cedi), tôn giả quán niệm rằng: “Không phải do tham dục mà đạt được Đạo, mà chính là do tâm biết đủ (tri túc); ở nơi ồn ào náo nhiệt mà tâm không đắm nhiễm; muốn thấy được Đạo cần phải siêng năng, thường xuyên có chánh niệm, lại còn phải đa văn và rèn luyện trí tuệ”.

Bấy giờ Phật đang ngự tại một khu vườn ở nước Bà Kì Dũ. Trong lúc A Na Luật quán niệm những điều như trên thì Phật thấy rõ được tâm ý ấy của tôn giả, bèn đến tận nơi để khen ngợi và khích lệ. Lại được Phật quan tâm thăm hỏi, tôn giả xúc động vô cùng. Nhân đó tôn giả đem tư tưởng của mình trình bày lên, xin Phật ấn chứng, và thưa hỏi thêm:

– Bạch Thế Tôn! Theo tinh thần “Sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp” (Lục hòa), mỗi cá nhân trong tăng đoàn phải quên đi những gì riêng tư, phải quên đi cái bản ngã nhỏ mọn của mình; đối với chúng sinh thì phải tuyệt đối dùng đức từ bi và lòng nhân ái để đối xử; những điều đó chúng con phải hiểu biết và phải thực hành trọn vẹn. Nhưng, bạch Thế Tôn các tín đồ tại gia thì rất đông, và các vị đệ tử xuất gia của Thế Tôn thường xuyên gần gũi với xã hội để hoằng pháp lợi sinh cũng rất đông; đối với những vị này, muốn cầu được giác ngộ và chứng nhập niết bàn thì làm thế nào, xin Thế Tôn từ bi khai thị.

– Thầy A Na Luật! Câu hỏi của thầy thật hữu ích! Những điều thầy đề cập tới đúng là những điều cần thiết của những người muốn tu học theo hạnh nguyện bồ tát. Thầy A Na Luật! Có tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân mà bất cứ là đệ tử của Như Lai, bất luận ngày đêm, đều phải tinh tấn hành trì:

– Điều thứ nhất: Phải thường xuyên quán chiếu để thấy được những tính cách vô thường, giả tạm, đau khổ, không thanh tịnh, không có tự ngã của thế gian. Phải quyết chí tu tập xa lìa sinh tử thì được giác ngộ.

– Điều thứ hai: Phải thường xuyên quán chiếu để thấy được tâm tham dục, mê hoặc bám chặt thế gian gây nên nhiều khổ đau. Phải sống một cuộc sống thiểu dục, vô vi, thì thân tâm sẽ được tự tại.

– Điều thứ ba: Phải thường xuyên quán chiếu tâm mình để thấy rằng, suốt ngày nó chỉ một mực lo tham cầu và tạo tội lỗi, không biết nhàm chán. Phải biết an vui trong nếp sống đạm bạc, biết đủ, để có thể hoàn thành sự nghiệp trí tuệ.

– Điều thứ tư: Phải siêng năng làm các việc lành, không từ chối bất cứ việc gì làm lợi ích cho người, diệt trừ phiền não, hàng phục các ma chướng; có thế thì mới mong vượt thoát được ngục tù của năm ấm và ba cõi.

– Điều thứ năm: Phải biết rõ rằng, sự ngu si thật là đáng sợ. Cho nên, đối với tất cả mọi ngành học thuật đều phải để tâm nghiên cứu và học hỏi; rồi lại phải phát tâm đem những điều đã học hỏi mà giáo hóa chúng sinh, sao cho mọi loài đều được an vui.

– Điều thứ sáu: Phải thấy rõ rằng, vì nghèo khổ mà người ta sinh nhiều oán hận. Người tu học theo hạnh bồ tát phải biết giúp đỡ họ về mặt vật chất cũng như an ủi họ về mặt tinh thần, dù ai xử tệ với mình cũng không nên khởi niệm oán hận.

– Điều thứ bảy: Dù phải sống ở trong thế gian cũng không bao giờ để cho năm thứ dục vọng của thế gian làm chủ mình. Dù là người xuất gia hay tại gia, không bao giờ để bị nhiễm ô bởi các thứ dục lạc của thế gian. Nhất mực phải sống cuộc đời cao thượng.

– Điều thứ tám: Không nên cầu sự an lạc cho riêng bản thân mình. Phải phát tâm đại thừa, cứu độ tất cả chúng sinh xa lìa đau khổ, cùng được an lạc.

Nhân lời thưa hỏi của tôn giả A Na Luật mà Phật khai thị tám điều tu tập của hạnh bồ tát. Rất nhiều người đã nương theo đó mà tu tập, cải thiện được đời sống, làm cho thân tâm được tự tại an lạc.

Trong đêm Rằm tháng Hai năm ấy, ánh trăng sáng tỏ chiếu khắp trời không, trong rừng cây Sa la, giữa cái không khí trang nghiêm, vắng lặng và đầy buồn thương, Phật bấy giờ đã 80 tuổi, đối trước đông đúc đệ tử ngồi vây chung quanh, đang dạy những lời cuối cùng về việc giữ giới, nhẫn nhục, siêng năng, giữ gìn tâm ý, v.v… Sau hết Ngài nói:

– Này quí thầy! Đối với những pháp môn Như Lai đã dạy, quí thầy hãy ghi nhớ lấy, đừng để cho quên mất! Như Lai cũng như ông thầy thuốc, chẩn bệnh và cho thuốc, còn uống thuốc hay không là do người bệnh; Như Lai cũng như ngưi ch đưng, ch rõ con đưng đúng, còn đi hay không đi thì không phi là do li ca ngưi ch đưng. Này quí thầy! Những giáo pháp về Bốn sự thật, Mười hai nhân duyên v.v… mà Như Lai đã đạy, đều là những chân lí mà Như Lai đã chứng ngộ, là cây đèn sáng của thế gian, là chiếc thuyền từ trên biển khổ. Những người đã hiểu rõ và tin tưởng vào chúng thì chúng chính là cánh cửa đưa họ vào đường giải thoát. Giờ đây Như Lai sắp nhập Niết-bàn, đối với các giáo pháp ấy, nếu ai còn ch nào nghi ng thì hãy nên bày t ra ngay đ Như Lai ging gii li.

Phật bảo đến ba lần như vậy, đại chúng vẫn ngồi yên lặng, chứng tỏ tất cả đều không có điều gì nghi ngờ. Sau khi quán sát tâm ý của đại chúng, tôn giả A Na Luật thưa:

– Bạch Thế Tôn! Tất cả chúng con không có điều gì nghi ngờ về các giáo pháp Bốn sự thật, Mười hai nhân duyên v.v… Đó là chân lí của vũ trụ nhân sinh, Trên thế gian này, mặt trời có thể trở thành lạnh, mặt trăng có thể trở thành nóng, núi Tuyết có thể trở thành biển lớn, cõi đất có thể trở thành gò hoang, nhưng giáo pháp của Thế Tôn đã dạy thì không gì có thể làm cho thay đổì được!

9.     ƯU BA LI – GIỚI LUẬT ĐỆ NHẤT

Theo luật lệ khắc nghiệt về giai cấp của xã hội Ấn Độ thời Phật tại thế, việc tôn giả Ưu Ba Li được liệt vào một trong mười vị đệ tử thượng thủ của Phật không phải là một việc bình thường!

Ưu Ba Li nguyên xuất thân từ chủng tộc Thủ đà la, tức giai cấp nô lệ, hạ tiện. Từ lúc mới sinh ra, những người thuộc giai cấp này đã bị xã hội kì thị, coi như phân rác, không thèm ngó tới. Trên đường đi, nếu gặp những người của hai giai cấp Bà la môn và Sát đế lị thì họ phải quì nép bên lề, nhường đường cho người kia đi qua; nếu lén nhìn trộm những người kia thì họ liền bị móc mắt; nếu biện bạch tự bào chữa thì liền bị cắt lưỡi. Suốt đời họ chỉ được làm nô lệ cho các giai cấp trên. Thân phận của Ưu Ba Li buồn thảm, đáng thương là vậy! Chàng chỉ có một nguồn an ủi duy nhất, đó là tình yêu thương vô bờ của cha mẹ!

Từ nhỏ, Ưu Ba Li đã không được học hành. Theo luật Ma Nỗ của đạo Bà la môn, chủng tộc Thủ đà la không có quyền học tập. Cho nên, dù có tâm chí đi nữa, việc học hành đối với Ưu Ba Li cũng chỉ là mộng tưởng mà thôi! Khi chàng đã khôn lớn, cha mẹ chỉ biết mong cho con mình học được một nghề gì đó để nuôi thân. Vào thời đó, những nghề như công chức chính phủ, thương gia, địa chủ, v.v… những người thuộc giai cấp Thủ đà là không được phép làm. Họ chỉ được làm những công việc dành riêng cho giới nô lệ như nông dân, thợ thuyền, tôi tớ v.v… mà thôi.

Ưu Ba Li là người rất gầy yếu, vì thế mà cha mẹ không muốn cho chàng phải làm những nghề nặng nhọc, vất vả quá sức như làm ruộng, đánh xe, giữ ngựa v.v… mà chỉ muốn chàng được làm tôi tớ cho một người chủ giàu lòng nhân ái nào đó. Muốn tìm được một người chủ tốt thì trước hết phải tạo cho mình có một khả năng chuyên môn nào đó để được người chú ý đến. Suy đi tính lại, cha mẹ chàng bèn quyết định cho chàng đi học nghề hớt tớc. Tâm tánh Ưu Ba Li vốn trong sáng và thuần phác, cho nên chàng học nghề không mấy khó khăn; chẳng mấy chốc, tất cả các kiểu tóc cũng như các cách thức cắt uốn, chàng đều rành rẽ. Có nghề rồi, cha mẹ chàng lại nhờ người giới thiệu, và may mắn thay, chàng được tuyển vào làm thợ hớt tóc trong hoàng cung Ca Tì La Vệ!

Tuy chỉ là một anh nô lệ làm nghề hớt tóc, nhưng vốn tâm địa thuần lương, trung thật, cho nên chẳng bao lâu Ưu Ba Li được cả hoàng cung tín nhiệm, thương mến, được giao cho mỗi một công việc nhẹ nhàng là hớt tóc cho các vương tử mà thôi. Chàng hớt tóc vừa cẩn thận, vừa nhanh, vừa đẹp, lại không đau, nên các vương tử như Bạt Đề, A Na Luật v.v… thích lắm!

Vào năm thứ ba sau ngày thành đạo, Phật trở về Ca Tì La Vệ để thăm lại hoàng tộc. Bấy giờ Ưu Ba Li khoảng hai mươi tuổi. Nhân Phật cần người cắt tóc, chàng được giới thiệu lên Phật. Đó là một sự ưu ái rất lớn, nhưng đã làm cho chàng hoảng hồn! Chàng nghe nói, Phật là bậc đại giác; và nếu thế thì đầu tóc Phật nhất định phải rất khác với người thường! Vậy làm sao chàng dám đụng đến đầu Phật, vạn nhất có điều gì sơ suất thì sao! Vốn đã có mặc cảm thấp hèn rất sâu nặng từ thuở nhỏ, chàng chỉ thấy Phật hiện là một vị thái tử đi tu đắc đạo, lấy mắt nhìn còn không dám, lại dám đụng đến đầu Ngài sao!

Chẳng biết tính sao, chàng bèn chạy một mạch về nhà thưa chuyện với mẹ để xin ý kiến. Bà mẹ liền trấn an chàng. Bà khuyên chàng đừng sợ sệt Phật, rằng Ngài là người giàu tình thương, đã từng tiếp xúc và giáo hóa những kẻ khốn cùng; rằng không bao giờ Ngài dùng cặp mắt của kẻ quyền thế để nhìn người, cho nên nhất định Ngài cũng không bao giờ khinh ghét chủng tộc Thủ đà la … Nhưng dù bà có trấn an thế nào, Ưu Ba Li vẫn không hết sợ sệt. Không biết làm cách nào, bà liền quyết định sẽ đích thân dắt chàng đi cắt tóc cho Phật.

Sáng hôm sau, bà dẫn Ưu Ba Li vào cung, trước hết xin được bái kiến Phật, sau đó mới bảo Ưu Ba Li cắt tóc cho Phật. Chàng vâng lời, bèn tập trung tâm ý, cắt tóc cho Phật một cách hết sức chậm rãi, cẩn trọng. Bà đứng một bên chăm chú nhìn từng động tác của con mình. Được một lúc, bà quì xuống thưa hỏi Phật:

– Bạch Thế Tôn! Ngài thấy Ưu Ba Li cắt tóc thế nào?

– Anh ấy cong người nhiều quá!

Câu trả lời của Phật nghe có vẻ như lạ, vì Ưu Ba Li tỏ vẻ cung kính đối với Phật nên đứng khom lưng, không dám đứng thẳng; nhưng theo truyền thuyết, qua câu nói ấy Phật có ý bảo cho biết, trong giờ phút đó, khi đang hết sức tập trung tâm ý, Ưu Ba Li đã nhập Sơ thiền.

Một lúc sau, bà lại hỏi:

– Bạch Thế Tôn! Bây giờ thì Ngài thấy Ưu Ba Li cắt tóc thế nào?

– Bây giờ thì người anh ấy rất thẳng!

Nghe Phật bảo thế, Ưu Ba Li càng chú mục tâm ý hơn nữa, và cũng theo truyền thuyết, lúc bấy giờ chàng đang ở bậc Nhị thiền.

Chẳng bao lâu, mẹ chàng lại thưa:

– Bạch Thế Tôn! Bây giờ thì Ngài thấy Ưu Ba Li cắt tóc thế nào?

– Hơi thở vào còn nặng nề lắm!

Ưu Ba Li nghe thế bèn để hết tâm ý vào hơi thở vô ra. Theo truyền thuyết, lúc đó chàng đang nhập Tam thiền.

Cuối cùng, mẹ chàng lại thưa:

– Bạch Thế Tôn! Bây giờ thì Ưu Ba Li cắt tóc thế nào?

– Hơi thở ra còn nặng nề lắm!

Lúc đó, bỗng nhiên tâm ý Ưu Ba Li hoàn toàn vắng lặng, không còn một niệm nào móng khởi, cả con dạo cạo trong tay cũng quên luôn … Theo truyền thuyết, vào lúc đó chàng đã chứng nhập Tứ thiền! Ngay lúc ấy, Phật quay sang bảo quí vị tì kheo đang đứng bên cạnh:

Một thầy hãy đến lấy con dao cạo trong tay Ưu Ba Li ra! Anh ấy đang trụ trong trạng thái Tứ thiền, quí thầy hãy đỡ anh ấy, đừng để bị ngã xuống đất!

Qua câu chuyện, chúng ta thấy Ưu Ba Li là người cẩn trọng đối với hành vi cử chỉ của mình biết chừng nào! Mỗi khi nghe người ta nói đến một khuyết điểm nào của mình, tôn giả liền nhận thức ngay và sửa đổi tức khắc. Vì bản tính quá cẩn trọng và luôn luôn nghiêm túc như vậy cho nên tôn giả ít khi để cho mọi người chung quanh phải có một lời bình phẩm không tốt nào về mình, và đó cũng là lí do sau này tôn giả được đại chúng tôn xưng là vị gìn giữ giới luật nghiêm túc số một trong tăng đoàn.

Trong chuyến hồi hương lần đầu tiên đó của Phật, cả hoàng cung và khắp kinh thành Ca Tì La Vệ đã được thấm nhuần mưa pháp. Cũng như hạt giống đã được gieo xuống đất rồi đâm rễ nẩy mầm, các vị vương tử trong dòng họ Thích Ca, sau khi nghe Phật nói pháp, đều muốn theo Phật xuất gia. Bấy giờ có bảy vị vương tử (trong đó có Bạt Đề, A Nan và A Na Luật), người thì được cha mẹ chấp thuận, người thì không, cùng rủ nhau đến vườn Ni Câu Đà (Nyagroda – Nigrodha) tìm Phật. Và họ dắt Ưu Ba Li đi theo.

Dưới một bóng cây, lúc đang cắt tóc cho vương tử Bạt Đề, thì nước mắt của Ưu Ba Li bỗng nhiên chảy ràn rụa. A Na Luật thấy thế thì vặn hỏi:

– Ngươi thấy anh em ta đi xuất gia thì vui mừng mới phải, tại sao ngươi lại khóc?

Ưu Ba Li khép nép thưa:

– Thưa vương tử, xin tha thức cho con tội vô lễ! Bởi vì vương tử Bạt Đề đã từng đối xử với con rất tốt. Nay quí vương tử đều đi xuất gia rồi sau này quí vương tử sẽ vân du bốn phương, lúc đó con biết tìm quí vương tử ở đâu! Cứ nghĩ đến điều này là con muốn khóc, xin vương tử thương mà đừng trách mắng con.

A Na Luật an ủi:
– Ngươi đừng buồn nữa, anh em ta sẽ giúp đỡ cho ngươi có được cuộc sống khá giả.

A Na Luật quay lại nói với các vị vương tử khác:

– Này chư huynh đệ! Ưu Ba Li hầu hạ anh em chúng ta đã lâu, rất siêng năng và trung thành. Nay anh em chúng ta đều đi xuất gia thì trước hãy giúp đỡ cho anh ấy có một cuộc sống khá giả về sau. Tôi xin đề nghị: Sau khi xuất gia rồi thì chúng ta đâu có dùng tới đồ trang sức nữa nữa. Vậy tôi trải tấm giạ ra đây, xin quí huynh hãy cởi tất cả đồ trang sức bỏ xuống đây để tặng cho anh ấy làm vốn sinh nhai!

Các vị vương tử vui vẻ tán thành lời đề nghị của A Na Luật. Họ cởi tất cả hoàng bào cùng vòng ngọc châu báu đang đeo trên người, đem biếu hết cho Ưu Ba Li, và bảo chàng hãy trở về lại thành Ca Tì La Vệ sinh sống, rồi cùng nhau nhắm nơi cư trú của Phật mà bước đi …

Ưu Ba Li vừa muốn quay về lại kinh thành thì bỗng chuyển niệm. Chàng nghĩ: “Bây giờ nếu mình mang hoàng bào cùng châu ngọc này trở về thì chắc chắn là phải bị vua cùng các vương công đại thần trong hoàng tộc trị tội. Vả lại, các vị vương tử tôn quí là thế, mà dám từ bỏ tất cả vinh hoa phú quí của thế gian để đi xuất gia, huống nữa là một kẻ hạ tiện như mình, không có gì cả trên thế gian này thì lấy gì để lưu luyến! Vậy thì mình cũng nên đi tìm Phật để xin xuất gia! …”

Suy nghĩ như vậy rồi, không còn chút do dự, Ưu Ba Li quyết định thi hành ý định. Chàng liền đem đống hoàng bào và các thứ châu ngọc treo lên cành cây, rồi bước theo con đường các vương tử đã đi khi nãy …

Đi một chặng đưòng, bỗng nhiên nhớ lại thân phận mình, chàng lại tủi thân, buồn khổ. Không cầm được nước mắt, chàng liền ngồi xuống bên đường vừa khóc vừa than: “Mình làm sao có đủ tư cách để xuất gia! Các vị kia đều là vương tử, còn mình thì chỉ là kẻ nô bộc, làm sao dám sánh ngang với họ!” Rồi chàng oán than nào là thế gian không bình đẳng, nào là phần số bất hạnh của chính bản thân mình … Bỗng đâu có tiếng người hỏi bên tai:

– Anh làm sao mà khóc than não nuột như thế?

Chàng quay đầu nhìn lại thì hóa ra là tôn giả Xá Lợi Phất. Chàng vội vàng lau nước mắt, quì trước tôn giả trần tình:

– Bạch đại đức! Đại đức là vị đệ tử lớn của Phật. Con biết được từ khi đại đức theo Phật về hoàng cung. Nay con có một chuyện xin thỉnh ý đại đức. Một người thuộc chủng tộc Thủ đà la như con, nếu muốn theo Phật xuất gia có được không, hay đó chỉ là vọng tưởng xa vời?

– Tên anh là gì?

– Thưa con tên là Ưu Ba Li.

Tôn giả Xá Lợi Phất liền nhớ lại thời gian vừa qua ở hoàng cung, có một thanh niên đứng cắt tóc cho Phật mà nhập đến Tứ thiền, chắc hẳn là người này đây; bèn khai thị:

– Giáo pháp của Phật là giáo pháp tự do, bình đẳng và từ bi. Bất luận là ai, dù có trí tuệ hay không, dù nghề nghiệp và địa vị cao hay thấp, chỉ cần giữ gìn giới luật thanh tịnh là đều có thể trở thành đệ tử của Phật, đều có thể xuất gia và đều có thể chứng quả vô thượng chánh giác. Anh hãy đi theo tôi đến bái kiến Phật. Nhất định Ngài sẽ hoan hỉ chấp nhận cho anh xuất gia làm đệ tử của Ngài.

Ưu Ba Li sung sướng, tức khắc theo tôn giả Xá Lợi Phất đi bái kiến Phật. Phật cũng rất hoan hỉ, đích thân xuống tóc và thọ giới cho chàng. Sau đó Ngài dạy:

– Này Ưu Ba Li! Thầy đã có rất nhiều căn lành, trong tương lai nhất định thầy sẽ có đầy đủ khả năng tuyên dương Phật pháp. Khi thầy chưa đến đây thì nhóm các vương tử Bạt Đề đã đến trước rồi, cũng để xin xuất gia; tuy nhiên, Như Lai chỉ mới mới chấp thuận trên nguyên tắc. Họ còn phải tĩnh cư tu tập trong bảy ngày để hoàn toàn quên đi cái thân phận vương tử của họ, sau đó mới được chính thức xuất gia và được cùng thầy tương kiến.

Ưu Ba Li cảm kích cùng cực. Lúc trước đã từng cắt tóc cho Phật, nhưng tôn giả đâu có tưởng tượng nổi là Phật từ bi đến độ ấy! Cho nên tôn giả thầm nguyện là phải hết lòng theo Phật tu tập, làm sao để trở thành là một người đệ tử thật xứng đáng của Người.

Bảy ngày tĩnh cư của nhóm vương tử Bạt Đề đã mãn, Phật gọi ra để cùng đại chúng diện kiến. Đứng trước đại chúng, họ bỗng ngỡ ngàng trông thấy tì kheo Ưu Ba Li! Họ cảm thấy thật là lúng túng, không biết nên xưng hô thế nào với Ưu Ba Li cho phải đây! Phật hiểu được tâm ý họ, liền uy nghiêm bảo:

– Các ông còn trù trừ gì nữ? Phàm xuất gia học đạo thì trước hết là phải diệt trừ cái tâm kiêu mạn. Ưu Ba Li nay đã xuất gia, đã thọ giới và trở thành một vị tì kheo rồi, thì các ông nên đảnh lễ cho đúng pháp.

Bảy vị vương tử nghe Phật dạy thế, liền đem tâm chân thành hướng về tôn giả Ưu Ba Li đảnh lễ; và sự kiện này lại làm cho lòng tin của họ nơi Phật pháp càng thêm vững chắc; trong khi đó thì Ưu Ba Li lại cảm thấy áy náy không yên. Phật thấy rõ được tâm trạng ấy, bèn dạy:

– Từ nay, thầy hãy lấy tư cách của một vị sư huynh mà đối xử với họ!

Sự kiện Ưu Ba Li xuất gia đã khiến cho pháp chế của Phật trở thành hiện thực. Pháp chế ấy được đặt trên tinh thần “Nước trăm sông đều chảy về biển; người ở bốn giai cấp đều được xuất gia”. Ở xã hội thì sự phân biệt giai cấp vô cùng khắc nghiệt, nhưng trong giáo đoàn của Phật thì sự phân biệt ấy đã bị đánh tan; và đó cũng là sự việc xảy ra lần đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ.

10.     LA HẦU LA – MẬT HẠNH ĐỆ NHẤT    

La-hầu-la (zh:羅 睺 羅 ; si, pi: rāhula) hán dịch là Phú Chướng, một trong thập đại đệ tử của Phật, ông cũng là người con duy nhất của Phật tổ Tất-đạt-đa Cồ-đàm. Mẹ của La-hầu-la là hoàng hậu Da-du-đa-la (si: yaśodharā). Khi La-hầu-la vừa được sinh ra thì thái tử Tất-đạt-đa lúc ấy đã 29 tuổi, quyết định rời bỏ gia đình và đi tìm chân lý đích thực, nhiều người cho rằng đó là hành vi “vô trách nhiệm” đối với một người cha, nhưng sau này có thể thấy chính Phật là người đích thân dạy dỗ con trai mình trên con đường đạt đạo, nhờ vậy Phú Chướng đã sớm giác ngộ khi mới ngoài 20 tuổi. La-hầu-la được Xá-lợi-phất (s: śāriputra) đưa vào Tăng-già từ lúc bảy tuổi và mất trước Phật, có lẽ khi còn rất trẻ.

La-hầu-la lúc mới xuất gia còn là một cậu bé lên mười, tính tình hiếu động, thường nói chuyện ồn ào và nói lời không đúng sự thật, lại làm phiền đại chúng, nhưng do có thân phận đặc thù nên đại chúng trong tu viện không ai dám quở trách La-hầu-la, dẫn đến ngày càng sinh nhiều chuyện không hay và tính tình không tốt của Lahula. Sau khi biết được sự tình, Đức Phật liền gọi La-hầu-la đến dạy.

Có  một hôm Đức Phật bảo La-hầu-la quan sát Đức Phật rửa chân, sau khi rửa chân xong Đức Phật hỏi: “Nước sau khi sử dụng để rửa chân có thể uống được không?” La-hầu-la trả lời: “Dạ bạch Thế Tôn, không ạ.” Đức Phật dạy: “Nước này sau khi trở thành nước bẩn thì người ta không còn quí nữa mà chỉ đem đổ đi. Cũng theo lí như vậy, làm một người nếu thường nói lời sai với sự thật thì sau này người khác sẽ không còn tin tưởng nữa, con có hiểu không?” Lahula nghe xong lời Đức Phật dạy liền cảm thấy hối hận và hứa sửa đổi.

Đức Phật dạy xong bảo La-hầu-la đem nước đi đổ, rồi lại hỏi: “Cái chậu này gọi là chậu gì?” La-hầu-la trả lời: “Dạ bạch Thế Tôn, đây là chậu đựng nước rửa chân.” Đức Phật hỏi tiếp: “Cái chậu này có thể dùng lại để rửa rau, rửa đậu không?” Lahula đáp: “Dạ bạch Thế Tôn, người ta không thể dùng nó để rửa rau, rửa đậu ạ.” Đức Phật dạy: “Đúng lắm, một người nếu tâm không trong sạch, lời nói thiếu chân chính, thì suốt đời chẳng có ai kính trọng. Không chịu học hỏi, thích làm người xấu thì sau này trở thành người vô dụng, chỉ dùng để đựng đồ nhơ, suốt đời không thể được người khác coi trọng. Nếu con không biết sửa đổi, nói lời chân thật và làm việc đúng đắn thì chỉ giống như cái chậu này.”
Đức Phật nói xong thì để cái chậu xa ra ngoài, rồi hỏi La-hầu-la: “Ta nay muốn bỏ cái chậu này đi, con có tiếc không?” La-hầu-la đáp: “Dạ bạch Thế Tôn, con không tiếc, vì nó chỉ là cái chậu bẩn.” Đức Phật dạy: “Đúng vậy, theo lí này, một người nếu không chịu học hỏi, thích sống hèn hạ, làm cho người khác thất vọng, người ấy sẽ không còn được tiếc thương chi nữa.” Đức Phật chỉ vào cái chậu bị đẩy xa kia rồi nói với La-hầu-la: “Nay cái chậu kia còn có thể đựng nước sạch mà dùng được không? ” La-hầu-la thưa: “Bạch Thế tôn, không được ạ.”. Đức Phật dạy: “Con nay đúng giống như cái chậu kia, tâm nghĩ và miệng nói không đúng đắn, lời nói nhiều lần không đúng sự thật, không ai tin tưởng và tôn trọng, giống như cái chậu kia, không đáng để người khác yêu mến.”

Lahula nghe xong lời Đức Phật dạy thì rất lấy làm xấu hổ, liền đứng chắp tay biểu lộ lòng thành hối cải, sau này quyết tâm sửa chữa sai trái mà trước đây đã làm.

Đức Phật răn dạy xong, lại nói thêm một ví dụ cho La-hầu-la nghe:

– Đời quá khứ, có một quốc gia nọ nuôi hai con voi lớn dũng mãnh thiện chiến. Mỗi khi nhà vua cử binh ra trận, lại trang bị áo giáp cho chúng. Ngà voi mang giáo nhọn, bên tai giắt kiếm bén, bốn chân đều có dao sáng ngời, sau đuôi lại cột thêm gậy sắt. Tuy mang nhiều vũ khí như thế, nhưng mỗi khi giao chiến chúng đều cuốn vòi dấu kín, vì đó là chỗ nhược, nếu để trúng tên liền chết ngay, vì muốn giữ gìn mạng sống phải giữ kỹ chiếc vòi.

La-hầu-la! Ông cũng phải như voi kia giữ kỹ cái vòi, cẩn thận giữ gìn lời nói, mỗi khi mở miệng nói đùa như voi bị thương, huệ mạng của ông sẽ mất, không được mọi người thương mến, không được người trí ưa thích, đến khi lâm chung sẽ bị rơi vào ba đường khổ.

Đức Thế Tôn dùng hết tình hết lý, khẩn thiết, nghiêm trang răn dạy, mỗi lời mỗi câu đều in sâu vào tâm La-hầu-la, chú bé phát nguyện từ nay sẽ sửa đổi.

Như hạt lúa chúng ta tuy xay giã thành hạt gạo, nhưng còn dính bụi cám, phải vo chà sạch sẽ thì gạo trắng mới ra gạo trắng. La-hầu-la tuy có bản tính tốt ngoan ngoãn, nhưng phải có pháp thủy của đức Thế Tôn tẩy rửa một phen mới trở nên thanh tịnh vô nhiễm được.

Từ đó La-hầu-la trở thành một người khác.

La-hầu-la thông minh khéo léo, tinh tấn tu hành, khi còn Sa-di ưa chọc ghẹo thiên hạ, hôm nay đã trở thành một thầy Sa-môn nghi biểu trang nghiêm. Vào năm hai mươi tuổi, đức Phật hứa khả cho thọ giới Tỳ-kheo.

Tuy còn trẻ nhưng La-hầu-la đạo mạo như một người lão thành. Những cuộc nhóm họp đông đảo trong sinh hoạt của Tăng đoàn, thầy ít khi tham dự, chỉ im lặng dụng công tu tập.

Thiệt là chẳng biết La-hầu-la dụng công thế nào mà chưa được khai ngộ. Nguyên nhân chính là thầy chưa quên được cái vinh dự lớn của mình. Dù sao thầy cũng là con yêu của đức Phật, là cháu cưng của vua Tịnh Phạn. Trừ những bậc thượng thủ ra, các Tỳ-kheo khác đều kính trọng thầy, ái mộ thầy, khen ngợi thầy. Được nghe luôn những lời khen tặng, các thầy tu trẻ rất dễ bị động tâm, mấy ngôn từ hoa mỹ ấy đáng sợ như ác ma, khiến cho La-hầu-la dụng công tinh tấn đến đâu cũng chưa đạt quả vị.

Thậm chí có thầy Tỳ-kheo đã hỏi Phật về chuyện khai ngộ của La-hầu-la:

– Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo La-hầu-la nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu hành, không phạm một lỗi nhỏ, vì muốn cầu khai ngộ, thầy đã tận tình buông sạch, vậy mà tại sao thầy vẫn chưa đoạn trừ hết phiền não, giải thoát hoàn toàn?

Đức Thế Tôn trả lời dứt khoát:

– Giữ giới tịnh tâm, giữ thân đoan chánh, nhất định có thể dứt sạch ô nhiễm, nhất định dần dần chứng quả.

Đối với việc La-hầu-la chưa khai ngộ, đức Phật không mấy bận lòng, Ngài vẫn đầy tin tưởng, đợi ngày ấy sẽ đến.

Mấy phen dường như khai ngộ mà vẫn chưa khai ngộ, La-hầu-la đem chỗ tâm đắc của mình bạch với Phật. Phật dạy La-hầu-la từ đây về sau nên thường cùng bạn bè đàm luận về đạo lý ngũ uẩn hòa hợp, và tự mình nên tư duy về ngã mạn, pháp vô ngã, pháp khổ, pháp vui v.v…

Một ngày nọ, vào sáng sớm, đức Phật cùng với La-hầu-la đi ra khỏi tinh xá Kỳ Viên, vào thành Xá-vệ khất thực. Trên đường đi, Phật quay lại bảo La-hầu-la:

– La-hầu-la! Ông hãy quan sát sc là vô thưng, th, tưng, hành, thc cũng là vô thưng. Ông xem thân tâm ca mi ngưi và tt c s vt trên thế gian đu nên khi quán vô thưng, không nên chp trưc.

La-hầu-la nghe vài câu nói đơn giản như thế, tâm địa hốt nhiên sáng tỏ. Tôn giả cáo biệt Phật, ngưng việc khất thực trở về tinh xá, ngồi kiết già một lòng suy nghĩ về ý nghĩa thâm thúy của lời dạy đó. Tôn giả lại dùng t bi quán tr tâm sân hn, dùng bt tnh quán tr tâm tham dc, dùng s tc quán tr tâm tán lon, dùng Trí tu đi tr ngu si. Tôn giả vào sâu trong thiền định và cơ duyên đã chín muồi, Tôn giả khai ngộ ngay hôm ấy.

Đức Thế Tôn khất thực trở về đến chỗ La-hầu-la đang tọa thiền, lại chỉ dạy thêm:

– Nên dùng sc đng th đi bi, lòng t vô duyên đ đi x vi ngưi và s vic, tâm lưng rng rang có th dung np tt c chúng sanh, mi có th dit ác, đếm hơi th quán tâm, có th đt đưc gii thoát.

La-hầu-la từ tòa đứng dậy, đảnh lễ đức Phật, thưa:

– Bạch Thế Tôn! Phiền não con đã hết, con đã chứng ngộ xong.

Đức Phật hoan hỷ, còn hơn sự hoan hỷ của La-hầu-la, Ngài khen ngợi:

– Trong các đệ tử ta, Tỳ-kheo La-hầu-la là Mật hạnh đệ nhất.

Gọi là mật hạnh, nghĩa là trong ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, La-hầu-la đều biết hết, đều có thể làm hết.

Kinh Tăng chi bộ ghi chép rằng Đức Phật thường nhắc đi nhắc lại La-hầu-la bài kệ sau đây:

“Hãy từ bỏ dục lạc của ngũ trần – vừa êm dịu vừa đầy sức quyến rũ. Với Niềm Tin vững chắc, hãy từ bỏ cảnh gia đình [ràng buộc vợ chồng/lôi kéo của đám đông] để làm người chấm dứt mọi đau khổ.

Hãy tìm chỗ ở nơi xa xôi, ẩn dật, thanh vắng và an tĩnh.

Hãy tri túc trong sự độ thực [Tứ Thọ Thực].

Không luyến ái y, bát, những vật dụng cần thiết và chỗ ở.

Không nên trở lại thế gian này [Bất nhiễm thế tục].

Hãy nghiêm trì giới luật và thu thúc lục căn.

Hãy thận trọng canh phòng nhục dục ngũ trần và hãy [biết] nhàm chán thế gian.

Hãy tránh xa những hào nhoáng bề ngoài của sự vật. Hãy trau dồi tâm nhất điểm và tĩnh lặng trong sạch. Hãy phát triển những gì không nuôi dưỡng lớp mặt bề ngoài. Hãy loại trừ tánh ngã mạn ngủ ngầm trong tâm. Khi tận diệt ngã mạn như vậy, hành giả sẽ đi xuyên qua cuộc sống trong thanh bình an lạc [thanh tịnh] tuyệt đối.”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s