Chánh tri kiến về chân dung Đức Phật Cồ-đàm

Screen Shot 2018-05-23 at 14.22.14Trong bài trước chúng ta đã cùng chánh tri kiến và tư duy về tên gọi của Đức Phật (xem tại đây).Bài viết này chúng ta cùng chánh tri kiến một di chứng lịch sử quý giá (H1 bên trên) do đạo sư Phú-lâu-na – một trong thập đại đệ tử của Phật – vẽ lại chân dung Đức Phật Cồ-đàm lúc 41 tuổi, được phổ biến lần đầu tiên trong tác phẩm “Vrai Zen” xuất bản năm 1967 tại Pháp của thiền sư Taisen Deshimaru(1914-1982)có nói về hình ảnh thật của Đức Phật (H1) phiên bản từ nguồn tư liệu của bảo tàng Luân Đôn của nước Anh, khuôn mặt, y trang, đầu tóc của Ngài không khác gì người bình thường, những pháp tượng về sau hoạ thêm búi tóc cao trên đỉnh đầu nhằm ý nghĩa tôn vinh sự thành đạt giác ngộ của Đạo Sư Cồ-đàm không gì khác hơn ngoài con đường trí tuệ và đạo hạnh bậc nhất…

Tu theo Phật, học cách thành Phật theo đúng chánh pháp nguyên thuỷ, đồng nghĩa là phải luôn chuyên cần vận dụng Trí tuệ để thấu quán đúng Sự thật thì mới thật sự giải mê khai ngộ, bằng ngược lại lười tư duy + rập khuôn tuân thủ + sáo ngữ tà biện, đó thảy đều là ma đạo/Phật giáo biến tướng… Nội dung này được trích lược từ bài giảng về đề tài “Sự thật về Đức Phật” (The True Gautama Buddha) đã được công bố trong tập sách “Phạm Võng Kinh Tinh Giải” NXBTH Đà Nẵng 2017.

Nhặt lá rừng mê…

Điểm lại dòng lịch sử Phật giáo xét từ thời điểm thế kỷ thứ VI trước công nguyên, kể từ lúc giáo pháp giác ngộ (phật học) do Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm/Đức Phật Cồ-đàm Mâu-ni truyền giảng, tính đến thời điểm hiện nay đã hơn 2600 năm trôi qua… Và kinh sách cũng đã từng trải qua nhiều giai đoạn sửa đổi, pha tạp trong giới phật giáo… Do vậy mà kinh sách phật học chính tông theo dòng chảy thời gian bị biến dị đi rất nhiều, thậm chí sai cơ bản, đảo ngược cả chân lý!… Nguyên nhân chính là do lai tạp tiên giáo/thần giáo/huyễn giáo/ma giáohoặc do hiểu sai/hành sai/vi phạm giới luật cơ bản trong giáo thuyết giác ngộ mà Đức Phật đã từng chỉ dẫn. Học Phật là học cách tư duy và nhận thức đúng đắn (chánh tri kiến và tư duy), tinh cần lọc lựa (trạch chi) loại ra những chi tiết linh tinh sai trái/xấu ác (tà pháp), để dần nhận ra tính cốt lõi bao hàm của sự vật/hiện tượng (pháp tánh)
Hãy cùng nhau nhìn lại, và “Hãy thẳng thắn nhìn nhận chủ huyệt của những sai lầm bị khỏa lấp bởi tà kiến biện thông, thì mới thật sự là người tu giác ngộ”   

Tương kỳ chư pháp suy mạt hiện thời, cùng chúng sinh tương ngộ chốn nơi này, cùng nhau cùng hứng chịu chung cám cảnh…, chênh vênh trên biển sinh tử, tù túng trong rừng mê che chắn, thâm nhiễm tam độc tham/sân/si. Cộng thêm tu học với rừng kinh sách nguỵ tạo ngày càng dày đặc che chắn lối đường xưa, đường về xa ngút ngàn trùng vinh/nhục… Nay chúng ta sẽ cùng nhau từng bước từng bước tự chủ và tri kiến, cùng tỉnh giác đồng tâm đồng lọc lựa,chắt chiu tìm nhặt lại từng chiếc lá bồ-đề trong nắm tay của Như Lai đã lựa trao ngày ấy… Đồng tâm đồng tinh cần ươm mầm hoa giới hạnh, đồng cùng đan kết nên hoa tràng chánh pháp, dần khai hương ưu-đàm diệu pháp liên hoa, vi diệu hoá hỉ pháp vị đẳng hòa chuyển lưu thời mạt pháp…

Luôn là người Khất Sĩ

Trầm lặng giữa rừng mê

Tìm nhặt lá Bồ-đề

Kỳ mạt pháp giải mê…

Sau khi bức ảnh (H1) được công bố nảy sinh nhiều nghi vấn… Học Phật chánh tông là phải luôn tinh cần vận dụng trí tuệ đối chứng lọc lựa truy tìm ra sự thật, không vội cả tin, nhắm mắt gật đầu, tín mê mù quáng… Hãy cùng chọn lọc đối chiếu truy chứng (trạch pháp giác chi) qua lại những kinh điển mang ngữ nghĩa tương đồng, đồng kết hợp đối chiếu phân tích những di tích phật giáo cổ xưa nhất để giúp sáng tỏ sự thật… Trên tinh thần khoa học khách quan, chúng ta hãy cùng nhau giải toả những nghi vấn về chân dung Đức Phật H1 một cách thiết thực, trực chỉ vào đối tượng/đối tác và cùng nhau dần hiểu đúng sự thật đồng cùng bảo vệ sự thật nhé…

Nghi vấn 1Gương mặt giống như người Tàu, người Mông Cổ, Nepal hơn, không có vẻ là người Ấn Độ?

Giải nghi:  Chúng ta hãy cùng đối chứng lại lịch sử khảo cổ nói về quá trình bộ tộc SakyaThích-ca di cư từ Trung Á sang Ấn Độ, vào thời điểm TK VI TCN một số ít đến định cư ở LumbidiLâm-tỳ-ni và Tây Tạng như phần lược sử đã dẫn ở trang 137. Như vậy, bộ tộc SakyaThích-ca ở thời điểm ấy kiểu hình/kiểu di truyền đã được thuần chủng Ấn Độ (Ấn hoá) hoàn toàn chưa? Dọc biên giới Ấn-Tạng thuở ấy là vùng cao nguyên Hi-mã-lạp-sơn cách xa đồng bằng, cư dân sống quanh khu vực đó đa phần là du mục, tướng mạo dày dặn, mạnh mẽ, linh hoạt, mắt dài một mí, mày mỏng,… Mặt khác, xét về góc độ nhân chủng học/xã hội học: thời điểm TK VI TCN xã hội Ấn Độ là thời kỳ tiền đồ sắt, mật độ dân cư thưa thớt, giao thông trắc trở (biên địa), phân bố nhiều khu tự trị (quốc độ) rải rác khắp nơi (khoảng hơn vài chục quốc độ)tựa như Bắc/Trung/Nam của nước ta phân chủng Mường, Mán, Tày, Thái, Chàm, Dao, Hmông, Êđê, Girai, Mèo, Nùng, Hoa, Khmer,…thuở xưa vậy-> ngôn ngữ/văn hoá/tập tục/tôn giáo cũng đa dạng theo… Bộ tộc Sakya di cư đến sống rải rác ở vùng Lumbidi vào thời TK VI TCN chắc nào đã có thể thuần gien cùng với những cư dân ở vùng đồng bằng no ấm(mắt tròn hai mí, mày nở,…) không? Đồng cùng đối chiếu thêm với những di tích như (H2), (H3), (H4)- những cổ tượng TK II, II phật giáo (vùng Gandhāra cận giáp bắc tây bắc Ấn Độ) – đều có khuôn mặt hao giống, ta nhận thấy thế nào về khuôn mặt, đôi mắt, mái tóc ấy so với (H1)? Từ đó ta dễ dàng suy ra…

Nghi vấn 2Râu tóc xồm xoàm, không giống như các tỳ-khưu Phật giáo phải cạo râu tóc?

Giải nghi:  Hãy cùng đối chứng thêm những di tích cổ từ TK II về trước . Thưở xưa, đầu tóc búi tròn cao, mang ý nghĩa thể hiện sự thông thái, tôn quý, bậc đại thượng trí, vị đạo hạnh bậc nhất,… Vì vậy cho nên một số vị đạo sư, các tu sĩ đương thời, các bậc học sĩ, các vị vương tôn, quan quyền,… đều có xu hướng đội tóc giả hoặc nón (mão/mũ) chóp/chỏm để thể hiện… Cũng có một số chi phái tôn giáo tư kiến bắt buộc tu sinh phải cạo sạch râu tóc lúc mới bắt đầu nhập môn tu học (cạo/nhổ sạch gốc rễ vô minhmàu đen của râu, tóc!) – thị tướng phân biệt tu/vô tu, trước/sau, cao/thấp – sau quá trình tu học được ấn chứng thọ ký thành đạo, sẽ được phép búi tóc cao và trở thành vị đạo sư tiếp kế…

Riêng Đạo Sư Cồ-đàm thì bất chấp thân tướng, diện mạo, trang phục, đầu tóc phải như thế này thế nọ mới gọi là tu, là đạo hạnh, là trí tuệ, là vị Đạo Sư hay Bậc Thượng Tôn hình thức… Ngài cho rằng tất cả những hình thức tôn tạo bề ngoài kia, thảy đều là ngũ uẩn trần xí, tứ tướng ngã/nhân/chúng sinh/thọ giả hư vọng, là pháp hữu vi vô thường/bất tịnh… Có gì đáng để sở hữu?

Screen Shot 2018-05-23 at 14.47.08.jpg

Screen Shot 2018-05-23 at 14.47.16.jpg

Screen Shot 2018-05-23 at 14.47.26.jpg

Từ những tư liệu khảo cổ trên cho thấy rằng trong đoàn thể tu học giác ngộ (Tăng-già Mâu-ni) thời đó hầu như mọi người (những tỳ-kheo/giác giả) đều để nguyên râu tóc, các giác giả chân chínhtâm vô tướng tu  không hề bận tâm với hình thức và dáng vẻ bề ngoài thể hiện tính phân biệt: tu/vô tu, hạnh/vô hạnh, hành/vô hành, giới/vô giới,… mất thời gian vô ích cho việc thường xuyên chỉnh trang đầu, tóc, râu, mặt, tay, chân, thân tướng, y trang thọ giả đúng như những gì trong nội dung 16 của Trung Giới đã nêu-> càng khiến thủ hữu tướng tu đặc dị, niệm niệm ngấm ngầm tăng khuếch tự ngã tướng …  -> sanh thân kiến tập đế khổ ngày thêm chồng chất mãi…niệm niệm tư lương/hệ phược thân/đầu tướng niệm, mâu thuẫn cơ bản pháp tu tứ niệm xứ mà đối tượng chánh niệm niệm xứ thân bất tịnh/thọ thị khổ/tâm vô thường/pháp vô ngã quán!… Do đó, nếu thủ chấp trước tướng hằn sâu lầm lẫn, giác kiến tư hành sai phạm cơ bản như vậy thì sao thoát khỏi Dukkha? Thuở xưa, có một số rất ít tu sinh từ nhiều chi phái của những tôn giáo khác nhau đến gia nhập cùng tăng-già mâu-ni để tu học giác ngộ, một số đã từng quen nếp sống ưa thích (Ái) búi cao tóc, hoặc cạo bỏ râu tóc hoặc bôi màu đầu/mặt/thân bởi tính đặc thù tôn giáo giáo điều trước tướng, niệm niệm thủ hữu trí tuệ thượng thừa  (búi tóc nhô cao), thường năng nhổ bỏ gốc rễ vô minh ví như màu đen kia của râu tóc hiện hữu (cạo trọc dầu)…hoặc không mặc y phục (loã thể) thủ hữu tướng thân trần tự tại…hoặc số khác khoát y trang màu sắc đặc dị thủ hữu tướng thượng nhân cao quý… Tập nhiễm tín ngưỡng giáo điều truyền thống cùng những định kiến cố hữu đã từng hằn sâu tận vào tâm khảm các tín đồ thời xưa, khiến họ chưa thể dễ dàng xả ly được ngay liền những tướng tu lập dị đã từng thọ nhiễm trước đó… Ví như trước thời nhà Thanh/Trung Quốc, truyền thống nam nhân đầu tóc để dài/y trang cổ rộng, sang thời nhà Thanh truyền thống nam nhân đầu cạo nhẵn chừa bím đuôi/y trang cổ hẹp, nếu tự trang đầu/thân ngược lại sẽ bị xem là Thân Minh/Phản Thanhbị chém đầu… Và tập quán/truyền thống kia đã từng hằn sâu vào ý thức hệ xã hội/cá nhân cộng sinh trong suốt quãng thời gian dài… Ngày nay, ra đường nếu thấy người như vậy thì mọi người sẽ gọi đó là dị nhân đúng không?… Thực tế hơn, ở Việt Nam ta vào khoảng thập niên 60 về trước bước ra đường thân mặc đồ ngắn/đầu đội nón bảo hiểm sẽ bị mọi người xem là người dị thường, ngược lại về sau này là bình thường… Và chính do những tập nhiễm tập tục thói quen tiếp dẫn (truyền thống) định hình tư tưởng hệ xã hội kích hoạt định kiến bảo thủ [Hiệu ứng quán tính sinh học sinh hình học tác ứng]…

Chánh tri kiến về tướng đầu/thân trong định kiến xã hộitôn giáo, chính trị, văn hoá nói chung và định kiến tướng tu trong việc tu học giác ngộ nói riêng, đối với đối tượng phàm phuhạng người sống buông lungkhó thể tự chủ thoát ra liền được, nhưng với nhóm người thiện trí/hiền trísống luôn tự chủ và tri kiến thì thấy rất rõ ràng và cũng rất dễ dàng giải thoát tư tưởng hệ cùng truyền thống/tập quán… Không giải thoát được tướng đầu/thân thời Minh sao thoát được sang thời Thanh, để được công nhận…gọi là người của nhà Thanh? Không giải thoát được tướng đầu/thân thời xưa sao thoát được sang thời nay gọi là người hiện đại? Tỉnh ngộ ra, tính đáo cuồng điên dại suốt bao niên đại cũng tại bởi lập dị tướng đầu/thân!.. Cũng vậy, nếu không tỉnh ngộ được tướng thân/đầu đều là pháp hữu vi bất tịnh vô thường, thì sao gọi là tu giác ngộ? Không giải thoát được tưởng tướng đầu/thân ô trọc, thì sao gọi là tu giải thoát? Sao gọi là tỳ-kheo/giác giả chân chính của Tăng-già Mâu-ni? Sao gọi là đệ tử của Đạo Sư Cồ-đàm? Đó là sự thật.

Trở lại vấn đề còn thủ chấp thân/đầu tướng khởi tu tu đối với những chúng sinh chưa được khai giác tri kiến, bởi họ chưa vượt qua được ái lực truyền thống/tập quán tín ngưỡng đã tập nhiễm hằn sâu, nên rất khó thể thấu quán chánh niệm hành thành hạnh giới… Thuở ấy, cùng với lòng từ bi rộng mở vô biên của Đạo Sư Cồ-đàm đối với tăng-già mâu-ni. Ngài luôn cảm thông thấu hiểu, sẵn sàng dang rộng vòng tay vô ngại đại bi đón nhận mọi tín chúng khắp muôn nơi mà không hề phân biệt tôn giáo, giai cấp, kẻ trước/người sau… Ngài luôn tận tâm tận tụy giáo hoá chúng sinh trên tinh thần bình đẳng, bất phân biệt, không cấm đoán, áp đặt mọi người phải miễn cưỡng tuân thủ, không tôn tạo huyễn hoặc, giáo điều giới luật hình thức, mà không hiểu rõ bản chất cốt lõi (Tâm/Tánh) của giáo pháp… Trong những nội dung Tiểu/Trung/Đại Giớiđã thể hiện quá ư là rõ ràng điều cơ bản này đúng không? Mặt khác,tínhcốt lõi/bao hàm (Tâm/Tánh) của giáo pháp giác ngộ là tâm vô trụ tướngNgã/Nhân/Chúng sinh/Thọ giả, tuệ tri đến tột cùng(bát-nhã ba-la-mật-đa)thật tướng chư pháp là vô tướng, kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, Ly nhất thiết chư tướng tức danh Chư Phật,…thì đối với tướng mạo đầu/thân – báo nghiệp hiện mang này – thảy đều là pháp hữu vi thọ giả thì cớ sao phải trụ nhân: cạo/lột/quấn/đắp?..

Tính trọng yếu của giáo pháp giác ngộ luôn là tự chủ tự giác tự tha tự tại thì cớ sao phải trụ/cột mãi tướng đầu/thân?… Nhắc lại, tài sản của người Khất Sĩ chân chính chỉ duy nhất 3 y phấn tảo và một bình bát bằng vỏ gáo dừa không gì khác hơn, thì dao cạo, dầu bôi láng mang theo người để xử lý râu, tóc bề ngoài kia phân biệt tu/vô tu, hạnh/vô hạnh, hành/vô hành…có đúng như thế không? Cũng vậy, răn đe người phạm tội bằng cách cạo trọc đầu bôi vôi, đột lỗ, ấn/khắc/xăm dấu,…có chắc rằng sẽ khiến cho tội phạm ấy không còn phạm tội được chăng? Đầu hói có nói lên người trí tuệ không? Đầu trọc có lọc được trọc ô không?…

“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”

“Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán”

Trong Kinh Pháp Cú 264 liễu nghĩa rất rõ ràng:

Người vọng ngữ và phá giới, dù cạo tóc, đắp y cũng chưa phải là Sa-môn, huống còn chất đầy  tham dục, làm sao thành Sa-môn?”

Không phải đầu cạo nhẵn,     Thân tham dục đắp y

Miệng nói lời thêu dệt                  Sao gọi là Sa-môn?  

        Về ngữ nghĩa thân tướng đắp yphấn-tảo/cà-sa chúng ta đã từng hiểu rất rõ ở những phần trước rồi, tương tự tướng đầu búi tóc hoặc cạo nhẵn (cạo trọc) hoặc đội mũ/mão hóa trang dị biệt…như đã vừa phân tích, người tu học giác ngộ luôn cần phải hiểu đúng sự thật “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Những gì còn có tướng thảy đều là vọng tưởng hư hoại).

Lời dạy của Tổ Đạt-ma:

        Nếu thấy được rằng tâm mình là Phật, chẳng cần phải cạo bỏ râu tóc, đắp y, dù là tusĩ tại gia cũng vẫn là Phật. Nếu không thấy tánh, cạo bỏ râu tóc, đắp y vẫn là ngoại đạo” [Thiếu Thất Lục Môn Yếu Chỉ/Đệ lục môn Huyết mạch luận]

Lời dạy của Tổ Huệ Năng:

Này các thiện tri thức, nếu như muốn tu hành, tại gia cũng được, không cần phải ở chùa. Nếu như ở chùa mà không tu, thì có khác chi những người ở Tây phương mà tâm địa độc ác… [Pháp Bảo Đàn Kinh, trích bản dịch cố HT.Thích Mãn Giác]

Nghi vấn 3Đeo bông tai, một loại trang sức, trái nghịch với giới luật tỳ-khưu?

Giải nghi:  Trong nội dung 16 chi phần Trung Giới đang phân tích là đối với các vị đạo sư, hàng thượng tôn đã thọ thí cung dưỡng của tín chúng vẫn còn dùng các đồ trang sức<->thọ dụng thêm tài vật(đồ trang sức). Trong giới luật tỳ-khưu là tam y nhất bình/bất nhiễm thế tục Nhìn lại H1 thấy tai đeo bông: Một là vẽ thêm (tượng ngữ hoa diệu âm thanh nhĩ); Hai là tài sản có trước (kỷ vật gia bảo), khác với tài sản thọ nhận về sau của tín chúng, tuy nhiên trạch cứu về trình độ mỹ thuật TK I TCN thì bông đeo tai kia là không thật. Có chăng đó chính là tượng ngữ nhặt cánh hoa rơi kết cùng cọng cỏ dại khô giữa rừng mê kia, đồng khế giải giáo nghĩa VănNghe họcTư duyTuChỉnh sửa  hay Nhĩ thức thọ pháp hoa/Giải nhĩ tặc phạm ác giới. Đồng thời, hoa tai tròn nhỏKý ngữ tinh hoa diệu âm miền tĩnh lặngmang ngữ nghĩa người trí giả trầm lặng/khiêm cung (Mâu-ni) là người luôn lắng nghe muôn loài kể cả cỏ cây hoa lá kia và luôn thấu hiểu…

Screen Shot 2018-05-23 at 14.50.44.jpg

Nghi vấn 4Trong kinh điển, mặc dù có đề cập đến Ngài Phú Lâu Na, nhưng không thấy nói Ngài có tài hội họa, vẽ chân dung?

Giải nghi: Ngay cả nội dung Kinh Kim Cang, chúng ta đều biết có lúc ghi là này Xá-lợi-phấtTrí tuệ đệ nhất, có lúc ghi là này Tu-bồ-đềGiải Không đệ nhất. Tên nhân vật có quan trọng bằng ngữ nghĩa chánh pháp cần hiểu không?  Ảnh do Phú-lâu-na hay do ai vẽ có quan trọng bằng sự thậtvề Đức Phật Cồ-đàm không? Hình ảnh kia do ai vẽ? Vẽ từ thời điểm nào? Vẽ như thế nào?  Vẽ bằng vật liệu gì? có quan trọng bằng sự thấy biết đúng, thấu hiểu đúng sự thậttrong Phật ngôn: “Ta là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành bình đẳng như nhauvàlý nghĩa bao hàm:“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”cùng tuệ tridần được minh bạch không?…

      Nghi vấn 5Ấn Độ vào thời đức Phật chưa chế ra giấy để viết hay vẽ?

Giải nghi:  Vật liệu dùng để ghi chép, vẽ hình thuở xưa sử dụng là da, lá bối (thiếp gỗ ghép), sau cùng là giấy. Điều mà chúng ta cần tri kiến rộng hơn, cũng có thể H1 là do người đời sau tiếp nối vẽ lại từ ảnh gốc đã kinh

trải qua bao nhiêu thế hệ lưu truyền, những vật chất tạo hình kia đều là hợp tướng hữu vi (vô ngã tướng) gồm: da/gỗ/giấy/mực/bút/người vẽ, tất cả đều tuân theo luật vô thường là hư hoại mục nát theo thời gian là hiển nhiên. Điều quý giá nhất mà chúng ta cần phải biết đó là sự thật luôn phải là sự thậtvà cùng nhau bảo vệ sự thật

Nghi vấn 6Vào thời Đức Phật cho đến khoảng 500 năm sau khi Ngài nhập diệt, người Ấn Độ không có truyền thống vẽ hay tạc tượng các vị đạo sư. Để tưởng nhớ hay để tôn kính Ngài, họ chỉ nắn, tạc hoặc khắc vào đá hình bánh xe Pháp hoặc hình cây và lá bồ đề. Đến khi đoàn quân Hy Lạp xâm lăng và định cư tại miền Tây Ấn, nghệ thuật tạc hình của Hy Lạp mới được truyền vào Ấn Độ, và từ đó, có hình tượng đức Phật.

Giải nghi:  Chỉ mỗi một di ảnh giúp nói lên sự thậtgiúp mọi người cùng tỉnh thức trên con đường tu học, cùng nhận ra sự thật thời mạt pháp rẫy đầy sắc tướng ngụy tôn ngụy tạo, mê hoặc biết bao chúng sinh vô tội… Với bậc đạo sư thuyết pháp đệ nhất Phú-lâu-na đồng thời đã đắc chứng A-la-hán dễ dàng nhìn ra kiếp nạn thời mạt pháp, cần phải giúp đời sau sáng tỏ vượt qua…cũng vậy sau khi Phật vừa nhập Niết-bàn giữa Phú-lâu-na và Ma-ha-ca-diếp từng bất đồng về việc linh động (khế cơ) trong cách tu khổ hạnh tương đối/tuyệt đối đối với những tu sinh mới nhập môn – giới hòa đồng tu – trong tăng-già mâu-ni thời ấy, thì việc khế truyền mỗi một di ảnh đồng giúp nói lên sự thậtcũng là ý nghĩa vậy…

Nghi vấn 7Tìm tòi trên mạng về các cổ vật Phật giáo trưng bày tại các viện bảo tàng Anh quốc, chưa bao giờ tìm thấy hình vẽ này, cũng chưa bao giờ tìm thấy một hình vẽ nào của đức Phật – trên giấy hay trên vải – trong thời kỳ cổ xưa đó tại Ấn Độ.

Giải nghi:  Đối với mỗi một di ảnh quý hiếm và vô cùng nhạy cảm, dễ gây hiệu ứng phấn kích đám đông sùng tín – tâm trí lập trình bảo lưu hằng hữu – do bất đồng chánh kiến… Tương tự như những di tích khai quật về Chúa Giê-su cũng vậy, mà tính tồn tại và phát triển tôn giáo trong cộng đồng phật giáo/thiên chúa giáo, tâm trí bảo tồn (tâm bảo) hằng hữu (định kiến kiên cố)/tận tâm khảm luôn gắn liền với bao truyền thuyết tôn sùng tín/kính ngưỡng tính siêu nhiên/siêu nhân xuyên suốt hàng ngàn năm và ngày càng rộng lớn khắp thế giới. Vì vậy, bảo tàng Luân-đôn/Anh có nên duy trì trưng bày công khai những di ảnh vô cùng nhạy cảm dị ứng tín ngưỡng truyền thống như đã nêu hay không?

Mặt khác, chúng ta có tìm thấy sự phản hồi nào của bảo tàng Luân-đôn/Anh đính chính rằng di ảnh (H1) trên là chưa hề tồn tại ở đó chăng?…

Điểm lại vào thời kỳ trước và sau khi Đức Phật ra đời (đản sinh), bộ tộc SākyaThích-ca định cư nhiều nhất ở vùng GandhāraCàn-đà-la, rải rác ở LumbiniLâm-tỳ-ni sát biên giới Ấn-Tạng (xem lại bản đồ cổ ở mục đầu), Đạo Sư Cồ-đàm được sinh ra từ nơi đó, chân đất kinh hành (bộ hành niệm xứ/không dùng xe cộ), tự hành đối diện với mọi hiểm nguy, gian khó lặn lội xuyên núi rừng/vượt sông suối…trải qua suốt 49 năm khất thực/độ sanh không ngoài các nơi (quốc độ) gần vùng Bắc-Tây-Bắc Ấn Độ…luôn là người trí giả thầm lặng khiêm cung (mâu-ni) độ sanh vô ngã/tướng, tóc để dài không trau chuốt, y phấn-tảo/cà-sa, sắc diện bình thường bình dị bình đẳng như bao người bình thường (chúng sinh) khác, không cố tình tạo dáng vẻ bề ngoài dị biệt để người khác nhận ra Ngài, luôn thường nhắc nhở: Thấy Pháp[-> Chánh/Tánh giáo pháp/Chư Pháp]tức thấy Như Lai[->Chư tướng Phi Tướng]… Mặt khác, ở ngoài vùng Phật thuyết pháp/vùng cách xa bắc-tây-bắc Ấn Độ thì tìm đâu ảnh vẽ thứ 2, ngoài mỗi một ảnh vẽ(khế giáo giải nghi hậu lai mạt kỳ)của ngài Phú-lâu-na thuở ấy? Tìm đâu những di tích của nhân vật lịch sử – Đạo Sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm – xuất xứ từ bắc-tây-bắc Ấn Độ ngoài vùng bắc-tây-bắc Ấn Độ với độ chuẩn xác hơn? Ví như tìm đâu di tích của nhân vật lịch sử Hai Bà Trưng xuất thân từ miền bắc Việt Nam với độ chuẩn xác hơn ngoài vùng Mê Linh thuộc bắc Việt Nam?…

Screen Shot 2018-05-23 at 14.51.46.jpg

 

Đạo Phật ngày nay: lời cảnh tỉnh từ những vị sư chánh trực

       3(42).pngPhật Pháp đến ngày nay càng tệ hại suy vi, cuồn cuộn chẳng biết bao nhiêu là sóng gió. Trước kia Tăng Ni trong toàn quốc còn có tám trăm ngàn người. Năm ngoái chỉ còn có hơn bảy chục ngàn người. Mười người chín kẻ hoàn tục! Đây tức là không có tâm trường viễn, không có tâm kiên cố. Gặp lửa dữ đốt tới thì chân đứng không vững liền. Nếu là đệ tử Phật thứ thiệt thì phải lập chí son sắt, cứng rắn. Trước hết học oai nghi, giữ đúng quy củ, để khỏi sợ người khác phê bình đầu óc mê muội. Rồi dốc lòng tôn kính phụng sự đạo lý và giới luật của Phật; bởi do nhiều kiếp trồng căn lành, nên kiếp này mới đặng vào cửa Phật, vậy thì cần gắng sức cầu đạo trừ bỏ thói hư, chẳng vào chốn danh lợi, chẳng làm tôi mọi cho bậc quyền thế. Trừ bỏ những thói xấu trong tâm mình từng chút từng chút một. Được vậy tức là người đại tu hành, sẽ vào được lý thể. Đó là vì tâm kiên cố trải qua lâu dài chẳng biến; tâm bình thường đối động tĩnh luôn nhất như. “Nho sĩ là tội nhân của Khổng Tử; Tăng sĩ là tội nhân của Phật.” Ngài còn nhấn mạnh: “Kẻ hủy diệt Phật Pháp chính là giáo đồ của Phật Giáo, chứ không phải các giáo phái khác. Kẻ làm cho Lục Quốc diệt vong chính là Lục Quốc, chứ không phải nhà Tần. Kẻ làm suy sụp nhà Tần chính là nhà Tần, chứ không phải Lục Quốc vậy”

 3(43).pngGiáo lý của Đức Phật đích thật là một phép tu tập giúp tẩy sạch những thứ “ô nhiễm” thường mượn các cửa ngõ của thân xác, ngôn từ và tư duy để thâm nhập vào tâm trí và làm cho nó bị u mê. Phép tu tập đó không cần đến kinh điển hay các tập sách chỉ dẫn, cũng không cần đến nghi lễ hay bất cứ thứ gì từ bên ngoài, kể cả thần thánh và các vị thiên nhân trên trời, mà nhất thiết chỉ cần trực tiếp tập trung và canh chừng những gì phát sinh từ thân xác, ngôn từ và tư duy…Phải ý thức được là sự tu tập Phật Giáo tự nó cũng có thể biến thành dị đoan nếu nó kết hợp với những thứ hiểu biết lệch lạc và với sự ước mong đạt được một sức mạnh thần bí. Thật vậy những thứ lặt vặt như thế vẫn thường thu hút được phần đông chúng ta, khiến cho chúng ta cũng cứ muốn thử xem ra sao, thí dụ như những bài hát mang tính cách nghi lễ, các hành động (có tính cách bày vẽ và ngoạn mục) để được mọi người khen ngợi, và vô số các thứ khác nữa đại loại như thế… Nếu nghi lễ được tổ chức bằng cách dâng cơm và bánh ngọt trước ảnh tượng của Đức Phật và nghĩ rằng “hương linh” của Đức Phật sẽ thụ hưởng những thứ ấy, thì chắc chắn một trăm phần trăm là tác động mang lại sẽ trái ngược hẳn với những gì mà mình mong đợi (thay vì phải phát huy trí tuệ thì đấy chỉ là cách làm gia tăng thêm tình trạng vô minh, mê tín và dị đoan của mình). Thái độ đó đi ngược lại với mục tiêu đích thực, thế nhưng lại rất phổ biến trong các giới Phật Giáo, thật quả đấy là những gì hết sức là phi lý. Chính vì thế mà sự tu tập nguyên thủy thật đẹp và đúng đắn đã bị một số người vì vô minh đã làm cho nó bị ô nhiễm. Tóm lại thì đấy là những gì gọi là dị đoan.

Screen Shot 2017-12-14 at 17.11.09.jpgChúng ta đều sanh nhằm thời Mạt Pháp. Gọi là “mạt pháp” tức là giáo pháp đã đến thời kì cuối, sắp đến lúc diệt vong, và cũng là lúc mà “Ma mạnh Pháp yếu”, “Tà thắng Chánh suy”. Cho nên tà thuyết đầy rẫy. Những tà thuyết này thoạt nghe thì cảm thấy rất hữu lý, nhưng nếu làm theo thì có thể dẫn đến cảnh vong quốc diệt chủng, khiến nhân loại bị tận diệt.

Hôm nay tôi nêu vấn đề này ra, mặc cho bè lũ yêu ma quỷ quái không thích nghe, tôi vẫn cứ nói. Đây là thời kỳ của đại tai kiếp, đại nguy hiểm, “Tạo chùa không bằng tạo người, tạo người không bằng tạo Phật. Tôi muốn làm một người thợ đúc “tượng”. Tôi muốn đúc nên những vị phật sống, những vị Bồ Tát sống, những vị tổ sư sống. Tôi còn muốn làm cho những chúng sanh trên thế giới này đều biến thành những vị Phật sống, những vị Bồ Tát sống, những vị Tổ sư sống luôn nữa! Rõ ràng đó không phải là những ngôi chùa lớn, mà là miếu thờ Thổ Địa, miếu thờ Thành Hoàng, miếu thờ của gia tộc. Khi những người ở chùa nhỏ dọn sang chùa lớn, thì tất cả có thể cùng nhau tu hành, như thế mới là nếp sinh hoạt của một đại tùng lâm. Vì sao ở chùa nhỏ thì không được tốt? Bởi vì ở đó thiếu sự gò bó, câu thúc. Không cần phải quán tự tại mà là: ăn tự tại, mặc tự tại, đi đứng tự tại, nên rất dễ quên đi việc tu đạo. Hàng ngày chỉ biết phan duyên, mà tập khí này là vết thương chí mạng làm băng hoại Phật Giáo. Tôi hy vọng Phật Giáo ghi lòng tạc dạ những lời này và đừng tiếp tục “bịt tai ăn cắp chuông” dối gạt nhân loại nữa. Hiện nay các dấu hiệu hỗn loạn trong Phật Giáo thời mạt pháp nay đã vô cùng nghiêm trọng, có thể nói là đến lúc phải báo động rồi. Thế nhưng chẳng có người nào dám đứng ra lên tiếng kêu gọi, mà ai nấy chỉ trố mắt ngồi nhìn cảnh Phật Giáo đang đi dần về cảnh diệt vong. Cách ba bước là có một tịnh xá, đi năm bước là gặp một ngôi chùa lớn, thật xót xa thay! Mọi người đều ra sức tổ chức Pháp Hội, siêu độ vong linh, làm lễ quán đảnh, truyền Pháp, xây chùa…mà chẳng hay biết gì về hoằng dương giáo nghĩa (hiểu và nhân rộng ý nghĩa những lời Phật dạy), hướng dẫn chúng sanh làm thế nào để chấm dứt sanh tử!

Mọi người cần phải luôn nhớ rằng: “Giáo nghĩa căn bản của Đức Phật là giáo dục, làm cho tất cả chúng ta đều có trí tuệ, có Trạch Pháp Nhãn, biết nhân biết quả, đoạn ác tu thiện; chứ chẳng phải một mực chú trọng về việc xây dựng chùa dựng miếu, thờ cúng phức tạp, bám víu muôn hình tướng, tổ chức nhiều Pháp hội!…” Người xuất gia sống một mình một chùa, xưng vương xưng bá, làm vua một cõi. Người tại gia do thiếu “Trạch Pháp Nhãn” nên đi theo hộ pháp cho họ, hộ tới hộ lui, hộ luôn xuống địa ngục! Vào thời kỳ Chánh Pháp, Tất cả đại chúng đều sống chung trong một đại tùng lâm của chùa, và cùng nhau dụng công tu Đạo. Song, vào thời kỳ Mạt Pháp, người ta lại không thích nếp sống của đại tùng lâm nữa. Mỗi người một chùa riêng – ông theo cách của ông, tôi theo cách của tôi, khiến cho người tại gia trở nên hoang mang, bối rối. Họ thấy ông sư này tướng mạo trông đẹp đẽ bèn hộ pháp cho ông ta, xây chùa riêng cho ông ta trụ trì. Rồi sau đó lại thấy một ông sư khác cũng không tệ lắm, họ lại xây cho vị đó một ngôi chùa nữa. Hộ tới hộ lui, rốt cuộc làm cho những người xuất gia sanh lòng tham danh hám lợi đến nỗi phải hoàn tục!

Screen Shot 2017-12-15 at 11.36.10.jpgThưa chư thiện hữu tri thức, cùng toàn thể Tăng Ni trẻ thân mến! Các Phật Tử gần xa thân mến!…Nguồn giáo lý giác ngộ nguyên thủy hay đạo Phật theo dòng chảy của thời gian nổi trôi lăn lóc trên biển đời tính đến nay đã 25 thế kỷ có hơn. Với dòng chảy thời gian ấy, với biển đời không gian vô hạn ấy, với không biết bao nhiêu căn cơ trình độ tri kiến tri thức và chủng tánh của loài người, ai cũng có quyền tìm hiểu nhận thức tin tưởng và bằng lòng theo sở kiến của mình. Do vậy, là người trí người ta biết chắc rằng nguồn chân lý vô thượng thậm thâm của đạo Phật không còn thuần túy nữa mà đã nhuộm quá nhiều màu sắc: Chính trị, thế lực vua chúa – tôn giáo, thế lực của tín ngưỡng tự do – ngoại đạo tà kiến, thế lực của huyễn hoặc hoang đường. Và tận cùng của sự bất hạnh rủi ro là nó lọt vào thế lực của kim tiền, vào tay và đầu óc của thành phần thông minh giỏi khai thác, họ mượn đạo Phật và giáo lý đạo Phật làm hàng hóa để kinh doanh sự nghiệp…

Lễ bái khấn khứa, van xin, thiết tha khấn nguyện mong sự giúp đỡ nào đó của tha lực bâng quơ, người đệ tử Phật là không để mình rơi vào cái quỹ đạo tà kiến của tưởng đượng hoang đường (đó)” Người ta dạy rằng: niệm kêu danh hiệu Phật 10, 15, 20 thấy chết có thể chuyển từ lạnh sang nóng, từ cứng đổi thành mềm…Lúc bấy giờ, gọi đó là vãng sanh…Người ta dạy rằng: nếu thân nhân ai đó qua đời, bổn phận người sống phải thỉnh mời hội họp lại đông đảo, cùng nhau tụng kinh A-di-đà, kêu gọi danh hiệu Phật A-di-đà…tiếp dẫn vong linh vãng sanh Tịnh Độ…Lối hướng dẫn, cách tổ chức tu hành như thế, ra ngoài đường lối Văn Tư Tu của minh sư (như trên) chắc chắn không đem lại kết quả thực tiễn nào. Những lối tu hành đó tự trình diễn, tự tố cáo sự sai lạc của tổ chức mình trước bàn dân thiên hạ, trước nhãn quan của người trí.

Về mặt nghi lễ cầu nguyện, cầu an cho gia chủ hay gia đình gia chủ tai qua nạn khỏi, cầu siêu cho những linh hồn tội lỗi sớm được siêu sanh miền cực lạc, mai táng người chết lúc không giờ, linh đình giỗ chạp cúng thất cúng cửu, đốt vàng mả tiền giấy hỗ trợ kinh tế cho vong linh, cúng sao giải hạn để được bình an mạnh giỏi đầu năm đến cuối năm, có bệnh không cần uống thuốc, chỉ cần khấn nguyện thần linh cứu giúp;…đại loại những hình thức nghi lễ cúng kính, cầu nguyện, van xin, khấn vái… như vậy, với nhãn quan của người đệ tử Phật, của những bậc minh sư chân chánh sẽ xem đó thuộc về việc làm mê tín, và nếu những ai tin tưởng những việc làm ấy đều gọi là thành phần mê tín. Đối với đạo Phật, người học đạo, hành đạo dù đã ở trong hình thức xuất gia mà việc làm, đức tin, sự hiểu biết của họ hướng ngoại tìm cầu, tin tưởng ở những ông, những đấng vô hình phò trì giúp đỡ…Đạo Phật xem đó là những người thuộc thành phần ngoại Đạo. Thần hồn, chánh hồn, hương hồn hay linh hồn là sản phẩm được sản sanh từ vọng chấp, tà kiến của hàng ngoại đạo. Nó xuất phát từ ý thức vô minh Ngã Chấp căn bản ban đầu…

Trong các kinh mà Đại Thừa Phật Giáo và Phật Giáo Việt Nam ta đang sử dụng học tu, nó nằm trong các tạng kinh Đại Thừa Phật Giáo của Trung Quốc, có thể nói danh nghĩa tuy hai mà thật sự gần như là một. Đó là điểm mà riêng tôi rất ưu tư, rất quan tâm lo lắng cho việc truyền đạo, học đạo và hành đạo của tương lại Phật Giáo Việt Nam chúng ta…Do không tuệ giác, thiên định lực Văn Tư Tu người ta đã phiên dịch, chú thích, sáng tác, ngụy tạo ra những nguồn tư tưởng, những pháp môn tu tập sai lạc len lõi trong Tam Tạng Thánh Giáo của Phật, lâu ngày mặc nhiên được người ta tưởng đó là lời dạy của Đức Phật. Những sự sai lầm lệch lạc của nền giáo lý Phật, những pháp môn tu tập theo tà kiến ngoại lai trong đạo Phật hiện nay nhiều không biết bao nhiêu mà kể…Chúng ta nên cảnh giác và sử dụng lý trí khi nghe chánh pháp, học chánh pháp, để tìm hiểu và nhận thức chánh pháp. Chúng ta hãy giữ vững đạo tâm, đạo lực, đạo hạnh của mình, đừng để lệch lối Bồ Đề. Những thiện hữu tri thức của tôi! Những tăng ni trẻ thân mến! Những Phật Tử gần xa! Chúng ta hãy quay về với Giới – Định – Tuệ, với Văn Tư Tu mà Đức Phật đã nhắc nhở! Tôi viết để vực dậy và đánh thức mình mấy mươi năm tu tập mơ hồ như sống trong trường mộng. Tôi hi vọng Phật Giáo Việt Nam ta làm thế nào tạo cho mình một đạo tràng đoàn kết với tinh thần phục vụ chánh pháp cao độ. Chúng ta ngồi lại bàn bạc, hội thảo một cách chân tình, cùng nhau rà soát, kiểm điểm, phân tích những kinh điển có ẩn tàng giáo lý bất hợp lý mà từ trước đến nay chưa có cơ hội đặt ra. Thiết nghĩ Phật Giáo chúng ta cũng nên tạo “sân chơi” để cùng nhau trao đổi nhắc nhở để bồi dưỡng trí tuệ cho nhau tiến lên tầm cao mới, có được không?

Nước chảy đá cũng phải mòn, nền giáo lý của đạo Phật chịu đựng với bao thế lực ấy, với bao phong ba bão táp nghiệt ngã của thời gian ấy, nay hơn 25 thế kỷ nguồn giáo lý ấy bị pha loãng với bao nhiêu mùi vị sông nước của thời gian, bị trà trộn với bao nhiêu bụi bặm tạp chất của không gian, bị hoen ố nhợt nhạt sắc màu theo sự biến thiên và thay đổi nhịp nhàng của loài người qua cuộc sống. Do vậy, ai đó vận dụng một ít trí tuệ nhãn để nhìn, sử dụng từng phân pháp nhãn để tư duy, người ta thấy rõ giáo lý của Phật mà con người của Phật Giáo sử dụng ngày nay tuyệt đại đa số lệch hướng chỉ nam GIỚI – ĐỊNH – TUỆ, sai đường giải thoát Văn Tư Tu mà đức Phật đã một đời đinh ninh dạy bảo! Tu Phật mà không sanh trí tuệ nhận thức chánh/tà giúp giải thoát và tri kiến giải thoát (vô tướng/ vô nguyện/ không) đó là sai đường lạc lối, chớ khổ công vô ích! Đúc tượng, xây tháp, xảo biện tu trì, tụng đọc, cầu vọng sắc tướng, lễ bái mê tín đó chắc chắn không phải đạo Phật!…

Chánh tri kiến và tư duy về tên gọi “Phật Thích-ca” hay “Phật Cồ-đàm”

Thích-ca Mâu-ni Phật là một cách gọi khác của Đức Phật Cồ-đàm và quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Với tinh thần luôn truy tìm gốc gác những gì mình nghe, chánh tri kiến để gọi đúng nhất tên Đức Phật, chúng tay thấy trong tất cả các kinh điển xưa tiếng Pali gốc đều dùng tên Cồ-đàm (Gautama) để gọi Đức Phật. Cách gọi đó theo đúng cách gọi của thời bấy giờ và còn phổ biến ở nhiều quốc gia ngày nay là gọi một người bằng họ của người đó, và họ của Đức Phật là họ Cồ-đàm.

Tiêu biểu nhất là trong Kinh Pháp Cú, Phẩm Tạp Lục, đều sử dụng chỉ một cách gọi Cồ-đàm dành cho Đức Phật:

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Phật-đà.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Đạt-ma.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Tăng-già.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm sắc thân.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường vui bất sát.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường ưa thiền quán.

Tên gọi Phật Thích-ca chỉ phổ biến ở hai quốc gia là Trung Quốc và Việt Nam. Cách gọi này chỉ mới xuất hiện gần 10 thế kỉ sau thời Đức Phật, khi Phật Giáo truyền qua Trung Quốc. Thích-ca (Sakya) được cho là tên bộ tộc của Ngài Cồ-đàm, nhưng gọi một người bằng tên bộ tộc cũng chưa thật đúng, và gọi Thích-ca cũng dễ nhầm lẫn với trường phái Sakya ở Tây Tạng. Còn từ Mâu-ni có nghĩa là “người trí giả trầm lặng” mà mọi người tôn kính dành gọi Đức Phật, người đã giác ngộ và luôn khiêm cung xem chúng sanh là bạn.

Học Phật điều tiên quyết là chánh tri kiến và chánh tư duy, chúng ta hãy cũng thực hành chánh ngữ bằng cách gọi và tri ân Đức Phật bằng tên đúng nhất: Cồ-đàm Mâu-ni Phật.

Chúng con đồng thành kính tri ân Ngài, Bổn Sư Cồ Đàm Mâu-ni Phật.

Với đọc giả muốn tìm hiểu sâu về vấn đề này, có thể tham khảo phần tên gọi Đức Phật trong cuốn sách “Phạm Võng Tinh Giải” do tác giả TOTHA. Quý đọc giả có thể đọc thêm tạito Sách Phật Học Tinh Hoa: Phạm Võng Tinh Giải Tập 1 – TOTHA

Sau đây là trích một phần trong quyển sách:

*Lược sử thời gian truy cứu để cùng hiểu đúng (Trạch giác) về phái Thích-ca/Thích-già/Tát-ca giáo phân phái trong phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng cùng sự biến tướng bành trướng:

Trước tiên, chúng ta sẽ cùng tìm xem sự xuất hiện của bộ tộc शाक्य [phiên âm La-tinh là Sākya, Hán Việt , đọc là Thích-già/Thích-ca]. Tham khảo đối chiếu lại bản đồ Ấn Độ cổ thời điểm năm 1750 TCN và năm 600 TCN để hình dung. Ta xem:

Picture1.png

Picture12.png

Theo tư liệu khảo cổ lịch sử thế giới cho biết bộ tộc SakyaThích-ca, Thích già thuộc bộ lạc Aryan xuất hiện TK XX TCN, sống du mục rải rác khắp vùng thảo nguyên Âu-Á. Khoảng TK XVII bộ lạc Aryan từ Đông Afghanistan cùng tôn giáo Hindu Kush thờ thần mặt trời đổ bộ dần sang: Pakistan/Bắc Ấn Độ/Nepal. Đến khoảng TCN TK VI TCN bộ tộc SakyaThích-ca thuộc bộ lạc Aryan phân bố định cư ở: 1. Gandhara(Càn-đà-la) nay thuộc Đông Afghanistan và một phần của Tây Bắc Pakistan. Đây là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại  ; 2. Sakastan ; 3. Matsya(Ma-thâu-la) phía nam thủ đô Delhi  của Ấn Độ ngày nay. Đây cũng là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại ; và bộ tộc SakyaThích-ca rải rác ở 4. Lumbidi(Lâm-tỳ-ni) phía cực Bắc Ấn Đô gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), nơi sinh ra Đức Phật Cồ-đàm Sĩ-đạt-ta. Nhắc lại, thế danh (tên họ) của Đức Phật chữ Ấn Độ là शिद्धत्थTênङोतमHọ(phiên âm La-tinh SiddhārthaTên GotamaHọ, phiên âm Hán Việt là: Sĩ-đạt-ta(Tên) Cồ-đàm(Họ), sinh quán लुम्बिनी[phiên âm La-tinh Lumbidi(Lâm-tỳ-ni)] phía cực Bắc Ấn Đô gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), thời điểm ra đời (đản sinh) khoảng TK VI/V/IV? TCN các kinh sách để lại không rõ ràng, phả hệ thuộc bộ tộc शाक्य(phiên âm La-tinh là Sākya, phiên âm Hán Việt là Thích-già/Thích-ca). Giáo pháp giác ngộ (phật pháp/phật học) do Ngài Cồ-đàm chỉ dạy được thịnh hành ở Ấn Độ đến gần giữa TK V thì bị suy hoá dần (biến tướng thành tôn giáo tín thần, đến TK XII thì bị diệt vong hoàn toàn). Lúc này, thời điểm khoảng giữa TK V vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma – vị Tổ cuối cùng của Đạo Phật chính thống (nguyên thuỷ) tại Ấn Độ – phải thân hành sang Trung Quốc để truyền bá chánh pháp – xem như Sơ Tổ  Đạo Phật chánh tông Trung Quốc – giúp lưu truyền chánh pháp được 5 đời TổHuệ Khả -> Tăng Xán -> Đạo Tín -> Hoàng Nhẫn -> Huệ Năng. Đạo Phật chánh tông (nguyên thuỷ) thịnh hành ở Trung Quốc chưa đầy 2 thế kỷ thì cũng bị biến tướng lai tạp cùng thần giáo/tiên giáo/huyễn giáo (triết học) phát triển rộng khắp bởi sức ảnh hưởng của “Lão phật gia Võ Tắc Thiên Hoàng Đế” hoằng hoá khai thị… Và khoảng giữa TK VI – thời nhà Đường – có vị sư chánh trực là Huyền Trang (玄奘) nhận thấy quá nhiều dị biệt lẫn mâu thuẫn trong kinh sách phật giáo, nên ông đã đích thân sang Ấn Độ để truy tìm chánh kinh mang về Trung Quốc biên dịch lại…đến cuối TK XI cũng dần bị lại tạp biến tướng hoàn toàn thành tôn giáo…

Như vậy, hãy cùng nhau trạch giác chi đồng chánh tri kiến và tư duy đúng đắn (Chánh tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa giữa Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni PhậtNam mô Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni Phật thì đâu gọi là Chánh Ngữ và Chánh Niệm về vị Đạo Sư tôn kính của chúng ta? Có vì danh xưng dòng họ Thích…(đúng nghĩa là bộ tộc Thích-ca/Thích-già) phổ biến ờ Tây Tạng mà vội cả tin đây là phật giáo chính tông của Thầy Sĩ-đạt-taTênCồ-đàmHọ hay không?!… Ví như dân tộc Kinh có nhiều thầy tên họ: Trần…, Nguyễn…, Đinh…thì có chắc rằng người, nhóm người, mọi người dân tộc Kinh đều là đệ tử của thầy Nguyễn Trãi hay cháu con của Nguyễn Trãi? Đệ tử của Nguyễn Trãi, cháu con của Nguyễn Trãi có chắc rằng hiểu đúng, làm đúng lời Nguyễn Trãi dạy hay không?…  Nhớ lại thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, bộ tộc Thích-ca đã gây tạo hiềm khích với vua Tỳ-lưu-ly -> thù hằn sâu nặng, khiến vua mang quân sang tiêu diệt sạch dòng tộc Thích-ca, lúc ấy đệ tử Phật là Mục-kiền-liên dùng thần thông can thiệp nhưng bất thành, Đức Phật bảo rằng thần thông không thắng được nhân quả… Và đồng cùng nhau đối chiếu xem lại 28 vị Tổ Ấn Độ cho đến 5 vị Tổ chánh tông tại Trung Quốc do Tổ Đạt-ma chọn truyền y bát, có thấy ai ghép tiền danh họ Thích…?

Một truyền tích về họ Thích…(theo một số chi phái của phật giáo Trung Quốc) cho rằng vào khoảng năm 220 – 300 có một nhà sư hiệu là Trúc Đạo Thanh hay còn gọi là Đạo Hinh, đồng thời vị sư này còn có thêm tên gọi là Thích Đạo Thanh… Số khác cho rằng do Thích Đạo An (năm 312 – 385) thiết định ra…. Chúng ta hãy cùng nhau chánh tri kiến và tư duy về lịch sử phật giáo Trung Quốc tại các thời điểm: *TK III:  – Đạo Sư Khương Tăng Hội (Giao chỉ) -> Đông Ngô (Tôn Quyền); – Đạo Sư Đàm-ma-ca-la -> Bắc   Ngụy (Tào Tháo) ; – Đạo Sư Châu Tử Hoàng -> Tây Thục (Lưu Bị) là những danh sư nỗi tiếng (trong đó Đạo Sư Khương Tăng Hội được tôn là đệ nhất danh sư), những vị ấy không hề mang họ Thích… -> Năm 310 Đạo Sư Phật-độ-trừng từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Đạo An (312-385), Huệ Viễn (344-416) -> Năm 384 Đạo Sư Cưu-ma­-la-thập từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Tăng Triệu (384–414) và Đạo Sinh (360–434). Chỉ mỗi sư Đạo An phác thêm họ Thích có thể hiểu theo nghĩa là ưa thích (gần như nghĩa ái), Đạo An (an bình trên đường đạo), Thích Đạo An tư nghĩa tự niệm tâm Ưa thích thành đạt an bình trên đường đạo hay Thích Đạo Thanh tư nghĩa tự niệm tâm Ưa thích thanh tịnh trên đường đạo…ái giác thay cho ái dục đời thường, tựa như giác nghĩa dụng giải Dục thần túc giác chi (khát khao mong muốn giác ngộ) thuộc chi phần Tứ thần túc/Tứ như ý túc trong 37 phẩm trợ đạo (Tam thập thất Bồ-đề phẩm), nhằm khéo léo cải thiện/hoàn thiện (thiện xảo) tự nhắc nhở tự tâm mình dần xoay thay chuyển/hoá giải dục mê chi trần cấu… Cũng vậy, ở Kinh Pháp Cú 300/301 thiện xảo thay chuyển/hoá giải niềm vuiHỉ/ưa thíchÁi thế tục thành niềm vui bất sát/ưa thích thiền quánTư duy an lặng nghĩa là vậy… Nghĩa là, Dụng pháp Chuyển pháp Thiện xảo Giải giới Pháp...

      Tóm lại, điều mà chúng ta – những người tu học giác ngộ chân chính, thật sự được gọi là đệ tử của Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm tôn kính – cần phải hiểu đúng và tư duy đúng (Chánh Tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa (Chánh Ngữ) “Thích-ca” cùng sự đồng hoá Tát-ca phái/Thích-già giáo của Mật giáo Tây Tạng vào phật giáo… Đó là sự thật.

Trích: “Phạm Võng Tinh Giải Tập 1”, tác giả: TOTHA. Quý đọc giả xem thêm sách ở bài viết Sách Phật Học Tinh Hoa: Phạm Võng Tinh Giải Tập 1 – TOTHA

 

 

Giải mã các ký ngữ giác ngộ tượng hình hay pháp tượng giác ngộ – Phần 2

Xem phần 1 tại đây.

Một số ví dụ về Ký Ngữ Tượng Giải trong Phật Học

Thí dụ 1: Để truyền đạt thông tin cho người câm điếc -> dùng đôi bàn tay/ngón tay để chuyển ngữ (ký ngữ thủ giải – hình trái ở dưới)

Ký Ngữ Thủ Giải

Cũng vậy, thuở xưa thời Đức Phật ngôn ngữ chưa được thống nhất, chữ viết chưa được phổ cập, người mù chữ chiếm đa số, tín chúng đa tôn giáo, đa đẳng cấp/đa ngôn ngữ,… -> cho dù họ có nghe được lời thuyết giảng, nhưng ngữ nghĩa khó thể nào đặng tỏ tường -> nghe/không nghe chẳng khác (văn/vô văn bất dị)… Vì vậy, đối với lý nghĩa chân chính cần phải luôn hằng tâm ghi khắc (tâm ấn), cách truyền đạt đôi khi cần phải khế ngữ thủ giải tựa như thủ ngữ chuyển giải đối với người khiếm thính vậy…[-> hình trái ở trên].

Lưu ý cần phải phân biệt Thủ Giải Tâm Ấn (ngữ nghĩa “Ấn” là luôn hằng tâm chi khắc tựa như Tam Pháp Ấn vậy) khác với kiết ấn thủ pháp (thị tướng hữu vi pháp do phật giáo biến tướng suy tưởng…) Luôn hằng tâm ghi khắc lời Phật dạy về Tam Quy Y (Giới-Định-Tuệ) và Ngũ Giải (Dục/Trọc/Ấm/Triền/Tà) là giải pháp cốt lõi thật sự giúp giải thoát Dukkha.

Thí dụ 2: Hình 1 (bên dưới) bánh xe quay (luân xa) tám nan -> tượng ngữ Bát Chánh (Tri kiến/Tư duy/Ngữ/Mạng/Nghiệp/Niệm/Định/Tuệ) chuyển pháp luân/chuyển luân tam pháp giới (Dục/Sắc/Vô sắc), ở nơi tâm của bánh xe gồm có 3 biểu tượng biến dịch dính mắc tương quan với nhau -> tượng ngữ 3 pháp tướng chuyển nghi: Sanh/Diệt, Tăng/Giảm, Tịnh/Cấu -> tượng ngữ tam độc: Tham/Sân/Si ,tương hành tương sanh Tam Giới: Dục/Sắc/Vô sắc ;

Hình 2: bánh xe pháp luân nằm trong bàn tay -> tượng ngữ tựa như lá rừng mê chằng chịt muôn trùng/pháp tướng trùng tương luân chuyển phản hồi/luân hồi… Từ thuở xưa Đức Phật đã chọn nhặt lá Bồ-đề – Bát Chánh Chuyển Pháp Luân – trao lại cho tín chúng, nghĩa là việc giải thoát luân hồi/xoay chuyển bánh xe pháp luân thảy đều nằm trong tầm tay của mỗi chúng ta và chữ vạn ở tâm bánh xe tượng ngữ xoay thuận chiều kim đồng hồ (chánh tiến/tấn) tức đúng theo chiều tiến hoá, ngược lại là suy hoá…

Ngoài ra, ta thường gặp một số ít ký ngữ bánh xe 12 nan -> tượng ngữ Lý Thập Nhị Duyên Khởi hay 6 nan -> tượng ngữ Lục Đạo Luân Hồi…

Hình 1 (trái): Bánh xe luân xa tám nan
Hình 2 (phải): Bánh xe pháp luân nằm trong tầm tay

Mặt khác, ta tránh bị nhầm lẫn với các ký ngữ: Hình 3 bên dưới là bánh xe 24 nan, Hình 4 là 24 tia sáng từ tâm mặt trời là biểu ngữ đặc thù của những tôn giáo khác mà vội biên kiến, quy kết/thêu dệt cho đó là biểu tượng của phật giáo!… Một điển hình trong Hindu giáo: 1.Tình Yêu; 2.Lòng can đảm; 3.Kiên nhẫn; 4.An lạc; 5.Đại lượng; 6.Lòng tốt; 7.Lòng trung thành; 8.Nhu hoà; 9.Lòng vị tha; 10.Tự kiểm soát; 11.Tự hy sinh; 12.Chân thật; 13.Sự quân bình; 14.Sự công bằng; 15.Nhân từ; 16.Cái đẹp; 17.Khiêm tốn; 18.Đồng cảm; 19.Cảm thông; 20.Kiến thức tâm linh; 21.Giá trị đạo đức; 22.Tinh thần khôn khéo; 23.Răn đe của Phạm Thiên; 24.Đức tin, Tín ngưỡng, Hy vọng

Hình 3: biểu ngữ của các tông giáo khác
Hình 4: 24 tia sáng từ tâm mặt trời của các tôn giáo khác

Bánh xe 24 nan: Hình 5 bên dưới -> tượng ngữ bánh xe thời gian (ngày 24h) kết nối cùng súc vật (ngựa, lừa, trâu, bò, voi) kéo chở giúp thuận lợi trong nông nghiệp, vận lương, tải gỗ, kéo pháo, chở vua chúa,…sự ra đời của bánh xe được đánh dấu là phát minh lớn có ý nghĩa lịch sử mà mọi thần dân và vua chúa thời xưa hằng tri niệm… ; Hình 6 của Kỳ-na giáo -> tượng ngữ thệ nguyện xoay chuyển pháp luân bởi 24 giới hạnh thành tựu ; Hình 7 là biểu tượng của quốc kỳ Ấn Độ: Màu vàng nghệ (dũng khí và hy sinh), màu trắng (hòa bình/chân thực/hoà đồng tôn giáo), bánh xe 24 nan ở giữa tâm( thời gian thông hành, theo truyền tích xưa), guồng xe sợi truyền thống (tư tưởng Mahatma Gandhi/1921)/guồng xoay động lực tiến hoá (tư tưởng Sarvepalli Radhakrishnan/1947), màu xanh lá (thiên nhiên, nông nghiệp, tín nhiệm/thượng võ) (do Mahatma Gandhi đề xướng 1921)/bảo vệ sự sống (do Sarvepalli Radhakrishnan đề xướng 1947).

Hình 5,6,7

Thí dụ 3: Tượng ngữ giác ngộ/pháp tượng giác ngộ thường gọi là “Đầu Phật”. Cần lưu ý đây là pháp ảnh giác ngộ/ký ngữ tượng giải, nếu tâm thức luôn mãi bị ám thị (thường năng kiến tướng) theo tập quán truyền thống: kiến tướng pháp ảnh hữu căn/thị tướng ngũ uẩn nhân tạo sanh tạobởi bút, mực, giấy, người vẽ,… kia cho đó là – thủ hữu tướng hữu vi – Phật/Như Lai hảo tướng siêu phàm, tâm luôn phải lễ phục, cung nghi, thành kính bất khả tư nghi, bất khả phạm…thì sẽ khó thể nào giúp thông tỏ được tư duy chánh giác giúp giải thoát tri kiến đặng… Nhớ mãi lời Phật dạy, tu học giác ngộ là phải luôn vận dụng trí tuệ để tỉnh nhận ra (giác ngộ) sự thật, luôn căn cứ vào Tứ Y Pháp/Tam Pháp Ấnxem lại trang 21 để trợ giúp đường tu tránh bị sa bẫy tà pháp thời mạt pháp…

Nhớ mãi lời Phật dạy, tu học giác ngộ là phải luôn vận dụng trí tuệ để tỉnh nhận ra (giác ngộ) sự thật, luôn căn cứ vào Tứ Y Pháp/Tam Pháp Ấn để trợ giúp đường tu tránh bị sa bẫy tà pháp thời mạt pháp…

Hãy cùng tỉnh thức, cùng tự vấn tự giải, tự tri thông qua giải pháp truy vấn đối ứng tính logic nhận thức rằng:

1.Phật/Như Lai là: Hữu tướng hay Vô tướng, Hữu vi hay Vô vi? Hư hay Như? Ngã hay Vô Ngã, Thường hay Vô thường? Sanh hay Vô sanh? Nhân hay Vô nhân?

2.Pháp ảnh hữu căn/hữu vi đang xét kia hoặc vẽ trên giấy hoặc được nặn nắn từ đất hoặc được nặn-nắn-nung từ sành, sứ hoặc được đúc-đục-đẻo-kẻ-khắc từ đồng, từ vàng hoặc được xẻ, khoét, đục, đẻo, điêu khắc từ gỗ, đá, ngọc,…là Không hay bất Không? Sắc hay Vô sắc? Minh hay Vô mimh?Tri hay Vô tri?

3.Pháp ảnh hữu căn đang xét kia – ngũ uẩn bất không – có độ nhất thiết khổ ách được không?… Xét theo hệ quy chiếu tư duy cùng tính logic nhận thức đúng/sai, thật/hư đối với chỉ số trí tuệ trung bình thôi, cũng đủ cho thấy sự thật quá rõ ràng phải không? Nếu đã giải thoát được thủ chấp pháp hữu vi cùng ngã tướng nhân thọ giả bởi từ định kiến truyền thống, tập quán, truyền thọ/thọ truyền trước/sau -> ái thủ hữu sanh nhiễm tưởng di căn…. Nếu tâm thức chắc rằng đã thật sự miễn nhiễm nhờ y pháp ấn liễu dược kháng sinh tư duy đúng đắn (chánh tư duy) thì việc tiếp đến chúng ta cùng chiếu kiến giải thông pháp ảnh giác ngộ/ký ngữ tượng giải đang xét để có được tầm nhận thức đúng đắn (chánh tri kiến) về phật học thì mới thật sự học được cách thành Phật…

Pháp ảnh giác ngộ/Ký ngữ tượng giải đang xét (chỉ mỗi đầu/mặt/không có thân) -> mang hàm ý là muốn giải thoát khỏi sắc thân bất tịnh/không còn mang thân đời sau nữa, tức là hoàn toàn thoát khỏi vòng vây bám của chư pháp chúng/thoát luân hồi -> cần phải luôn luôn (thường năng) vận dụng năng lực của trí tuệ (bát-nhã) – ký tượng pháp ảnh mỗi cái đầu, tức chỉ có duy nhất là năng lực của trí tuệ mới giúp tự mình giải thoát – cần phải luôn suy xét (thường năng quán chiếu) một cách tự tại ngày càng uyên thâm (quán tự tại hành thâm), công phu trí tuệ đến tột cùng hoàn hảo (bát-nhã ba-la-mật-đa thời), đối chiếu xuyên suốt từ trong lẫn ngoài (chiếu kiến) giữa ta và vạn vật hiện đang cùng bị trói buộc lẫn nhau bởi năm tướng không thật (ngũ uẩn giai không), thì đó mới thật sự là giải pháp duy nhất giúp ta vượt qua tất cả mọi ái lực lôi kéo của vạn vật và chúng sinh (chư pháp chúng) – nguyên nhân chính tạo ra luân hồi. Căn bản trọng yếu của giáo pháp giác ngộ là trí tuệ phải luôn tự chủ 6 căn tránh say nghiện/đồng nghĩa giữ gìn giới hạnh – ký tượng pháp ảnh mắt/tai/mũi/lưỡi đối xứng, cân bằng – tránh không bị vướng mắc (Vô-nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân,ý) bởi cám dỗ của ngoại trần/6 thức (Vô-sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) gây ngăn ngại bởi hư tình/hư minh/hư danh tướng (Khổ/Lạc/Hỉ/An/Bi/Dũng/Khủng/Tri/Hữu Vô/Vĩ Vi/A-la-hán/Bát-nhã/Bồ-tát/Đắc đạo/nhập Niết-bàn…) Khi 6 căn bị mất tự chủ/nhiễm dục/phạm giới -> trong tâm trí lúc tỉnh, lúc mê, luôn lẩn quẩn/lầm lẫn/nhiễu loạn quanh các tướng phân biệt: đúng/sai (chánh/tà), thật/giả (chân/ngụy), thiện/ác (lành/dữ), hơn/thiệt (nhiều/ít), bớt/thêm (tịnh/cấu),… – ký tượng pháp ảnh các xoắn tóc thuận/nghịch (tâm tương nghi lưỡng tướng trí) – biểu trưng 2 bên phải/trái nhằm phản ảnh lưỡng tướng tương nghi của tâm trí, làm xúc tác cho tam độc dấy khởi hoành hành… Ký tượng pháp ảnh ba vòng quấn nơi cổ tượng trưng gông xiềng Tam độc (Tham-Sân-Si) giam hãm ta quanh quẩn suốt trong Tam giới (Dục-Sắc-Vô sắc giới). Khi trí tuệ hoàn toàn điều phục 6 căn, đồng thời 6 căn thông hoà -> trí tuệ hội tụ bất tương nghi – ký tượng pháp ảnh hòn (viên) ngọc nhô lên ở giữa các xoắn tóc – tượng giải là trí quang (ánh sáng trí tuệ) viên minh (tròn sáng) ví tựa như châu ngọc kim cương (kim-cang bát-nhã) kia, càng đặt trong tối càng tỏa sáng lung linh, xuyên suốt tận cùng (kim-cang bát-nhã ba-la-mật-đa) mọi bóng tối (vô minh) giúp tựu hòa tâm trí (viên dung, viên hợp) vượt qua mọi chuyển đổi thuận/nghịch (đoạn nghi thanh tịnh) bởi trí huệ nhiếp phục đã phát sinh, đẳng đồng toả khắp…tức đã thành tựu giác ngộ!

Hiểu về Phật học tức là phải thông hiểu cách thức, phương pháp tu học thành Phật hay con đường (Đạo) tu học thành Phật (thành tựu giác ngộ) được phản ảnh bởi trí tuệ và sự thật, nhằm thể nhập cùng BẢN TÂM (còn gọi là nhập ĐẠO/đắc ĐẠO/chứng ĐẠO/thành ĐẠO/đạt ĐẠO). Muốn vậy, không gì khác hơn ngoài cách thức/con đường khai thông trí tuệ sáng suốt/lý trí tự chủ …[Định-Tuệ Chuyển Luân] – ví như ánh sáng ngọc như ý kia lung linh tỏa khắp – nhằm chuyển lưu lưỡng nghi tướng Chánh/Tà trong tâm trí sao cho trong suốt (thanh tịnh), không còn bị dính mắc theo vòng xoáy Tam GiớiDục/Sắc/Vô sắc tướng đan xen điệp trùng chằng chịt, đó gọi là Dukkha. Khi công phu trí tuệ được thắp sáng bởi dầu giới hạnh, sẽ dần tựu hòa thành trí huệ toàn hảo viên giác [Huệ Năng Tựu Hòa] thông hoà tam giới, tức là giải thoát Dukkha. Gốc rễ từ chỗ buông lung 6 căn mà sinh nên muôn cớ sự… -> phạm vào Tà Giới/Ác Giới – Tiểu/Trung/Đại Giới Phạm -> khiến cho tâm bị nhiễm ô Ngũ Trọc/Tam ĐộcTham/Sân/Si ẩn tàng tương tác đối ứng lẫn nhau (tương ưng) mà hóa thành vô số (ức vạn) hành thức đan xen dính mắc…(tạo sinh tám mươi bốn vạn phiền não) -> kẹt vướng (đọa sa) tâm thức vào vòng xoáy của Tam giới Dục/Sắc/Vô sắc ngục hay gông xiềng Dukkha..

“Chớ để bị mắc bẫy ngôn từ như con voi sa lầy”
“Chớ để bị mắc bẫy hư tình như con chim sa lưới”

Và chúng ta, với những người tu học giác ngộ chân chính cần phải luôn vận dụng trí tuệ để hiểu đúng sự thật thế nào là con đường thật sự dẫn đến Niết-bàn (Tam Tánh: Tĩnh-Tịnh-Không/Vô tướng-Vô tác-Không) thì mới chắc chắn giải thoát luân hồi, bằng ngược lại phí tổn công sức thật là vô ích và nào ngờ nỗi khổ lớn mai sau, điều mà tổ Đạt-ma đã từng nhắc nhở.

Chớ bị nhầm lẫn an lạc chiêu tình tướng ngũ dục cảm và hỉ/khinh an giác chi minh sát… Nhắc lại lời Phật dạy trong phẩm An Lạc/Kinh Pháp Cú:

Câu 197: Không thù oán giữa những người thù oán; Câu 198: Không bệnh [-> bất nhiễm chúng sinh trọc] giữa những người bệnh [-> bệnh thân tâm]; Câu 199: Không tham dục (ngũ dục) giữa những người tham dục; Câu 200: Không bị chướng ngại bởi hỉ lạc như những vị trời quang âm; Câu 201: Không sinh tâm thắng thua giữa những người thắng thua; Câu 202: Không còn bị lửa tham dục, sân hận thiêu đốt, ngũ uẩn xí dày dò, luôn hỉ giác (hỉ giác chi) vượt qua mọi ngăn ngại chướng ma, hướng tâm định tuệ thông hoà Tĩnh-Tịnh-Không (Niết-bàn); Câu 205: Sống tự tại đời khất sĩ độc cư (không nhà cửa/bất trụ cư).

Và trong phẩm Phật-đà/ Kinh Pháp Cú, câu 187 Đức Phật đã liễu kết: “Chớ bị lầm cảnh dục lạc thiên là Niết-bàn, đệ tử Phật là phải thật sự dứt sạch ái dụcNgũ dục Lạc/Lạc thiên giới “. Những gì ngược lại, đó không phải là đệ tử Phật, tức là tà ma ngoại đạo!…

Dựa vào những điều trên ta tự thấy được mình đã thật sự an lạc chưa? Hãy thử nghiệm sống một mình không điện, không nhà cửa, không tiện nghi, tiện ích (ĐTTDĐ, Internet, Tivi, bếp nấu,…), tự lực cánh sinh giữa rừng vắng hoang vu xem thử mình có cảm thấy an lạc được không?… Tu giác ngộ thành Phật ta cần kiến lạc tướng thoả thụ căn hay bất nghi tương pháp tướng trợ duyên vô ngại tác pháp duyên duyên thanh tịnh tâm/kiến giác tánh? Đó chính là bài kiểm tra năng lực cơ bản của tuệ giác tự chủ, nếu không vượt qua được thì đừng mong thoát khỏi khủng bố của thiên ma trong tầng nhập lưu thứ nhất (sơ thiền) chánh định tâm chuyển hoá…thì sao vượt qua 3 cấp chuyển lưu tiếp kế mà nhập Niết-bàn?…

Cùng đối chứng thêm lời Phật dạy trong phẩm Sợ hãi khiếp đảm/Trung Bộ Kinh (trích lược bản dịch Pali của cố HT.Thích Minh Châu):
“Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân nghiệp không thanh tịnh, khẩu nghiệp không thanh tịnh, ý nghiệp không thanh tịnh, mạng sống không thanh tịnh, ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng [-> tiểu/trung/đại giới phạm] nếu sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, đời sống không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thân nghiệp/khẩu nghiệp/ý nghiệp/đời sống không thanh tịnh, không ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Do đó, ta sống tại các đời sống ta luôn thanh tịnh, tự tại…”
Tóm lại, Dukkha là sự dính mắc giữa chư pháp và chúng sinh -> bất tự do tự tại -> vòng quẩn luân hồi bất tận…

Người tu học giác ngộ mà không luôn tự chủ vận dụng trí tuệ để thông hiểu đúng sự thật, thật là đáng tiếc và đáng hỗ thẹn khi nhận là đệ tử của Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni Phật.

Giải mã các ký ngữ giác ngộ tượng hình hay pháp tượng giác ngộ – Phần 1

Nội dung này được trích lược từ đề tài “Giải mã các ký ngữ giác ngộ tượng hình hay pháp tượng giác ngộ” theo giáo pháp phật học nguyên thủy và đã được công bố trong tập sách “Phạm Võng Kinh Tinh Giải” NXBTH Đà Nẵng 2017. Với cách lý giải khoa học, đồng thời cách trình bày tập sách phù hợp với mọi đối tượng nhận thức sẽ giúp chúng ta ngộ ra rất nhiều điều ẩn mật suốt tận ngàn xưa… Thật là quý giá lắm thay, nay chúng ta sẽ đồng cùng nhau soi lại sao cho đúng đắn và cùng thắp lên ánh sáng trí tuệ xuyên suốt trên con đường hành trình tu học tiến hóa theo đúng với chánh lý giác ngộ nguyên thủy, những điều mà ngày ấy Đức Phật Cồ-đàm Mâu-ni đã từng truyền giảng… Đó mới thật sự gọi là đệ tử Phật (Phật tử thật).

Truy ngược dòng lịch sử vào thời Đức Phật cách đây hơn 1,500 năm, khi giấy viết còn là vật hiếm hoi, đa số người dân không biết chữ…thì việc sử dụng tượng để truyền đạt giáo Pháp là cách hợp lý. Sau đây chúng là cùng tri kiến, lọc lựa lại chánh Pháp và ý nghĩa của những bức tượng trong Phật Học.

Trước tiên, ta cùng tri kiến về chân dung Đức Phật. Trong đó có quan niệm phổ biến thời nay là 32 tướng tốt được cho là của Đức Phật.

Trích trong Trường Bộ Kinh/Đại Niệm Xứ: “Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, Tỳ-khưu quán sát trên cơ thể này từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống bao bọc bởi da và đầy các loại bất tịnh khác nhau. Trong cơ thể này có: 1tóc, 2lông, 3móng, 4răng, 5da, 6thịt, 7gân, 8xương, 9tủy, 10thận, 11tim, 12gan, 13hoành cách mô,14 lá lách, 15phổi, 16ruột, 17màng ruột, 18bụng, 19phân, 20mật, 21đàm, 22mủ, 23máu, 24mồ hôi, 25mỡ, 26nước mắt, 27mỡ da, 28nước miếng, 29nước mủ, 30chất nhờn ở khớp, 31nước tiểu và 32não trong đầu. Như thế, này các thầy Tỳ-khưu quán thân ( với 32 tướng bất tịnh hư hoại/tam thập nhị hảo xảo tướng) tự vui thích, trừ bỏ niệm ác, không có sầu lo”.

Trích Kinh Kim Cang: “Lại nữa, này Tu-bồ-đề có nên xem 32 tướng đẹp (Mỹ hảo xảo tướng bất tịnh hư hoại) kia là Như Lai không?… Những gì gọi là tướng thảy đều là vọng tưởng hư hoại.”

Trích Kinh Pháp cú 147: “Hãy ngắm cái thân trang sức này chỉ là đống xương lở lói, chồng chất tật bịnh mà người ta tưởng là êm ái, cái thân ấy tuyệt đối không có gì trường tồn.”

Nhìn hình hài xinh đẹp,
Một khối nặng khổ đau,
Bịnh tật, nhiều lo nghĩ,
Có gì vĩnh cửu đâu.

Phần đông đều hiểu nhầm khi thành Phật là phải sở hữu 32 tướng đẹp, tựa như sắc tượng hữu vi còn đầy đủ 6 căn kia do con người tác tạo nên… Vậy thử hỏi rằng 32 tướng hữu vi cõi Dục Giới Nhân thú này có sánh bằng sắc tướng biến hoá vô lượng thân hào quang – Thiện/Thiên thú Tam giới ngục – ở các cõi Dục/Sắc/Vô sắc Thiện Thiên kia chăng?…

Và sắc tượng được con người chế tác kia là: Hữu Sanh hay Vô Sanh, Thường hay Vô Thường? Ngã hay Vô Ngã? Như hay Hư? Vô Tướng hay Hữu Tướng?…. Cũng vậy, chớ bị mắc lừa do ám thị sắc thân tươi nhuận bởi thọ mỹ vị, lạc cảnh, y trang, trang sức, năng trì cung lễ sắc tượng hữu vi…-> tác tương (thọ -> ái -> thủ -> hữu -> sanh xảo hảo tướng) mà tưởng lầm là liễu đạo!… Ví như người giàu có, nhàn lạc không lao động chân tay, ngồi mát ăn bát vàng, xung quanh có nhiều người hầu hạ, cung lễ, ăn uống nhiều cao lương mỹ vị (sâm, nhung, yến sào, thảo dược,…), trụ cư nơi cao sang, phong thuỷ hữu tình, y trang trang trọng, thường năng thị kiến những hình ảnh/tác tượng đẹp thêu hoạ/kiến trúc hoa mỹ, tai luôn nghe những lời ca tụng (tán thán), tâm thức luôn tự kỷ ám thị hảo mỹ tướng (tự kỹ duy thức hảo mỹ ngã tướng)/tương đồng hiệu ứng đám đông ám thị thị giả…thì đương nhiên dáng vẻ bề ngoài sẽ luôn tươi nhuận hồng hào, xinh đẹp dần lên, tạo dáng trang nhã, nói năng từ tốn, lịch lãm,…nhưng có chắc rằng đây là người trí nhân anh hùng trượng phu quân tử chăng?… Đối với người mê dễ dàng bị thu phục tín tin hình thức bề ngoài, còn người trí dễ dàng nhận ra chân tướng…

Xem thêm: Chánh tri kiến về chân dung Đức Phật Cồ-đàm

Mỹ hảo xảo sắc tướng hữu vi kia không phản ánh nên nhân cách/tánh giác, kể cả tam thập nhị hảo tướng (32 tướng) tương hành khả kiến lẫn phi khả kiến: [Tứ Vô Vi Tướng]Cầu/Tranh/Đoạt/Chấp x [Tứ Vô Thượng Tâm Tướng]Từ/Bi/Hỉ/Xả x [Nhị Hành Thức Tướng]Danh/Sắc. Rõ ràng, xưa kia ngài An-nan tướng mạo phi phàm và là người luôn sát cánh bên Đức Phật, nhưng sau 49 năm ông mới đắc đạo, ngược lại so với ngài Ca-diếp gầy ốm, khắc khổ được Phật chọn làm sơ tổ kế thừa…

Dẫn chứng thêm trong phẩm Giới phân biệt/Trung Bộ Kinh có ghi rằng: Một hôm Đức Phật đến khất thực nhà người thợ làm đồ gốm Bhaggava, gặp ẩn sĩ trẻ Pukkusati tướng mạo hảo mỹ đến đấy trước Ngài, mọi người đều không ai biết người Khất Sĩ đến sau tướng mạo bình thường là Đạo sư Cồ-đàm rất nổi tiếng, sau khi nghe Ngài giảng thuyết mới nhận ra… Điều này cho thấy, trước sau như một Đức Phật luôn là người Khất Sĩ bình dị, bình đẳng bình dị như bao vị Khất Sĩ khác trong đoàn thể (Tăng-già), luôn trầm lặng, khiêm cung (Mâu-ni), hoà đồng lắng nghe, đầu không cải trang dị biệt, thân đắp y phấn tảo, đi chân đất, không tôn tạo dáng vẻ bề ngoài mỹ, hảo đặc dị như phàm phu tán thán… Hay Tổ Đạt-ma lúc sang Trung Quốc đắp y phấn tảo, đầu trần, râu tóc luộm thuộm, đi chân đất… Tổ Huệ Khả lăn lộn chốn giang hồ truyền bá chánh pháp có ai nhận ra hảo tướng phi phàm?… Tổ Huệ Năng tướng mạo bần nông, mù chữ chân chất so với bậc đa văn, thạo chữ, tướng mạo thượng sư Thần Tú, xét ra ai là người thông tuệ?…

Còn ái thủ hữu tướng thân mỹ hảo xảo vốn bất tịnh vô thường phản tương trần giới cảnh, bởi do nhãn căn bất tịnh nhiễm lưu sắc tướng thường năng xúc-kiến-thọ tương xảo hảo hành!… Đó là sự thật.

Thêm một đối chứng trực quan lời nhắc nhở của Phật trong Ðại Giáo giới La-hầu-la/Trung Bộ Kinh:
Này Rahula, bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại (trước, sau đều luôn như vậy), nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”… Này Rahula, cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ; như vậy, này Rahula, được gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự là ngã của ta”. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly (nhàm chán lìa xa) đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới…

Người tu học giác ngộ chân chính cần hãy luôn ghi nhớ rằng: Tiểu/Trung/Đại Giới hành cũng nhằm để kiểm tra/thử nghiệm lại con đường mình đang đi, đồng thời giúp suy đoán lại người thầy mà mình đang theo, chớ bị lầm tưởng bởi dáng vẻ bề ngoài hảo xảo mỹ, giọng điệu ru ngủ, ỷ ngữ tán thán, thuộc làu kinh pháp,… Với kỹ năng/công nghệ thẩm mỹ hiện đại ở các nước tiên tiến mà chúng ta đều biết rất rõ trên những phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, dễ dàng biến vịt thành thiên nga… Vì vậy, việc tạo hảo xảo mỹ tướng cũng sẽ là điều dễ dàng với tiền bạc…

“Những người hư ngụy, tật đố và xan tham, tuy có biện tài lưu loát, tướng mạo đoan trang, cũng chẳng phải người lương thiện”
Không phải tài hùng biện, Hay vóc dáng đường đường, là ra bậc hiền lương, nếu ganh, tham, dối trá! (Pháp Cú 262)

Trong Kinh Đại-bát-niết-bàn, từng nêu rõ lý nghĩa viên hoà tam tướng phi tướng (Tỳ-lô-giá-na): 1.Thanh tịnh/ 2.Ức hoá(Ứng hoà)/ 3.Viên mãn -> đó gọi là Như Lai Tánh (Không-Vô tướng-Vô tác). Hay trong Thiếu Thất Lục Môn, Tổ Đạt-ma cũng đã chỉ ra: “Hình sắc và Trí tuệ của Như Lai là vô tận, là BẢN TÂM viên hợp đẳng hoà thể tánh nhất thiết chư pháp giới, tựu tâm/kiến tánh ắt sẽ ngộ ra… Phật tại nơi Tâm, chớ nương tựa, vọng cầu, lễ lạy sắc tướng hữu vi tất sẽ bị ma thu nhiếp…”.

Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Tổ Huệ Năng cũng đã nhắc lại: “Niệm niệm không tư lương/hệ phược, luôn hướng về tự tánh thanh tịnh, ức hoá, viên hoà. Thập ác bất hành/ Bát tà bất nhiễm, duyên hoà duyên Định Tuệ chuyển lưu, tự tu tự ngộ (Quy Y Tự Tánh) Tam thân Phật ngay trong chính sắc thân mình: Thanh tịnh pháp/Ức hoá/Viên mãn. Tam thân Phật này phát sinh từ Tự Tánh[-> Bản Tâm] của chư vị”.

Thuở xưa, y trang của người Khất Sĩ chân chính luôn là 3 bộ y phục (Tam Y) ghép nối (chắp vá) từ vải rách mục, do góp nhặt từ y phục bỏ đi (phế thải) của dân chúng, gọi là y Phấn-tảo/Cà-sa mang ý nghĩa sâu sắc như sau:

*1.Phấn-tảo (tợ âm Pāmśukūla phiên ngữ La tinh/Ấn Độ, có nghĩa là: gán ghép, vụn vặt, chắp vá, giả hợp), nhằm luôn hằng tâm – Chánh niệm tỉnh giác/Như lý tác ý/Như thật tuệ tri – sắc thân này không tự thành (Vô Ngã), mà là do sự ghán ghép của Tứ Đại: Đất/Nước/Gió/Lửa thu nạp từ 3 cõi-Tam Giới:Dục-Sắc-Vô sắc tương ưng theo nghiệp lực mà tạo nên…;

*2Cà-sa (tợ âm Kasāya phiên ngữ La tinh/Ấn Độ, có nghĩa là: ô trược, hư hoại, mục nát) nhằm luôn hằng tâm – Chánh niệm tỉnh giác/Như lý tác ý/Như thật tuệ tri – sắc thân này do sự khéo léo kết nối (xảo hảo) của 32 tướng bất tịnh hư hoại (Vô Thường) như đã dẫn trong phẩm Đại niệm xứ/Trường bộ Kinh.

Giải thoát Dukkha – tương giải theo chúng sinh tri kiến khế nghĩa (trực quan sinh động luận/chúng sinh tri kiến khế giải/pháp tướng phi tướng khế/tiệm giải) – tựa như việc tháo gỡ Tam Y GiớiDục/Sắc/Vô sắc y giới Giả hợp(Phấn-tảo)/Hư hoại(Cà-sa) để trở về cùng chân như bổn tánh, tự tánh, bản tâm, chân tâm gọi chung là Chân Tánh/Chân Tâm(Thanh tịnh-Vô tướng-Vô vi). Mặt khác, một số kinh điển còn gọi là thể nhập Niết-bàn(Tĩnh-Tịnh-Không) hoặc một số khác còn gọi theo phiên âm ngữ Phạn (cổ ngữ Ấn-Hán) gán ghép.

Bát-niết-bàn(Sa.)/Bát-níp-bàn(Pa.), xuất xứ từ chữ परिनिर्वाण(Sa.)/परिनिब्बान(Pa.)[phiên âm La tinh Parinirvāṇa (Sanskrit)/Parinibbāna (Pali )-> Hán Việt đọc là Bát-niết-bàn (Sanskrit)/Bát-níp-bàn (Pali). Việt dịch là Niết/Níp-bàn thể nhập.

Tóm lại, hành trình tu học giác ngộ sẽ được liễu giải (Chúng sinh tri kiến khế (tiệm, cận) giải) tương kiến giác giải theo ngữ nghĩa gói ghép đã dẫn như sau: Tam Quy Y Ngũ Giải -> Truyền/Chuyển Tam Y Giải/Giới -> Bát-niết-bàn

1. Tam Quy Y Ngũ Giải: Tháo gỡ Tam Y Giới nhập Niết-bàn (Sắc tinh anh vi diệu) song hành kinh trải đúng theo 3 quy trình[->Tam Quy Y] Giới-Định-Huệ. Mà tính cốt lõi/trọng tâm (Tâm Pháp) của giáo nghĩa bao hàm (Pháp Tánh), đồng nghĩa là chuyển giải, hoá giải thành công mắt xích truyền dẫn bám nhiễu (thọ ký) tâm thức gồm: Ngũ Trùng Tương/Ấm [Dục/Trọc/Vọng/Triền]/Tà -> gói nghĩa chung (Ký ngữ liễu giải/Tương giải theo giác tri kiến nghĩa) gọi là Ngũ Giải (Giái/Giới)解….

2. Truyền/Chuyển Tam Y Giải/ Giới nhập Niết-bàn: Cũng còn được gói nghĩa là Chuyển Y Bát-niết-bàn. Nhắc lại lời dạy liễu nghĩa của Tổ Đạt-ma: “Tánh của Đắc Đạo là không còn mang thân đời sau” (Bất thọ hậu hữu, danh đắc đạo), đồng nghĩa là phải tháo gỡ hết Tam Y Giới (Dục/Sắc/Vô sắc) -> An Tâm/Ngộ Nhập Chân Tánh (Tinh Anh Vi Diệu Sắc/Viên hoà chư pháp giới) đồng ngữ nghĩa là không còn đắp Y Phấn-tảo/Cà-sa như đã giải… Mãi luôn trau chuốt/tham đắm khoác chiếc áo thế gian (vốn đã là bất tịnh), nay lại cấu thêm nhiều sắc màu rực rỡ, đan xen gắn kết cùng danh vị hão huyền (Tiểu/Đại, Thượng/Hạ phân biệt) có giúp chuyển được tam y giới chăng? Phàm sở hữu tướng nói chung và y sắc/danh vị nói riêng, thì giai thị hư vọng hay như thị như lai? Vị Đạo sư (Sa-môn) được chọn kế thừa truyền bá giáo pháp giác ngộ, giúp chúng sinh thật sự Chuyển Y Bát-niết-bàn được vị Tổ đời trước tuyển chọn, sẽ tiếp nhận/truyền thừa (Thọ thừa) truyền giải giáo pháp Chuyển Y Bát-niết-bàn, liễu nghĩa khế giải là người được truyền thọ Y-Bát (Chuyển Y Bát-niết-bàn) luôn sẵn lòng từ bi vô ngại, xả thân hành đạo không màng danh chứng hay báo đáp, luôn tâm nguyện bình đẳng, thấu hiểu, âm thầm giúp đỡ, dìu dắt, hỗ trợ (độ tha) tất cả chúng sinh thông hiểu lý nghĩa truyền thọ Tam Quy Y Ngũ Giải theo như ngữ nghĩa đã phân tích… Vậy thì, chúng ta có nên hiểu nhầm tợ âm dị nghĩa giữa cái bát đựng缽 thức ăn, thức uống lúc khất thực và âm ngữ परि[Pari(Latin) -> 般Bát(Hán Việt)] và (Giải,Giái,Giới)解-> Giới戒 biến tướng tựa như Udaya vyayam (Sự sanh diệt) -> thành Udaka-bakam (Hạc già sống lâu) lẳng lặng từ ngàn xưa ấy?… Hay là, chúng ta có nên hiểu y pháp hành vô tướng hạnh biến tướng là y cà-sa hữu tướng hư vọng tưởng chăng?…

Ảnh tượng chuyển giải ngữ nghĩa Chuyển Y Bát-niết-bàn

Hình trên là ảnh tượng chuyển giải ngữ nghĩa Chuyển Y Bát-niết-bàn (ký ngữ tượng giải). Như đã biết thời xưa chữ viết chưa phổ cập đại chúng, ngôn ngữ địa phương đa dạng, trùng âm dị nghĩa như Udaya vyayam (Sự sanh diệt) -> thành Udaka-bakam (Hạc già sống lâu) là một điển hình… Do đó, muốn truyền đạt những giáo nghĩa quan trọng giúp cho các tín chúng dễ nhớ dễ hình dung, đồng thời tránh thất truyền chân nghĩa -> ký ngữ tượng giải sẽ chính là cách tốt nhất giúp truyền giải liễu nghĩa và lưu truyền chánh pháp. Phân tích tượng giải niên đại ½ TK I, di tích Phật Giáo được xem là cổ nhất được tìm thấy ở vùng Gandhāra (Càn-đà-la) phía bắc-tây-bắc Ấn Độ.

Giải mã những ký ngữ tượng hình ấy như sau:
1. Quanh vòng tròn phía sau đầu của pháp tượng gồm có 20 gai (tia) sáng phân toả (Thập Nhị Duyên Khởi + Bát Tà, 12 +8 = 20) -> ngầm hiểu luôn vận dụng (thắp sáng dần) trí năng chiếu kiến/tuệ giác xuyên suốt (Huệ Năng thành tựu) tròn sáng (viên minh) thấu quán toàn thông (viên thông) [Lý Thập Nhị (12) Duyên Khởi] (Vô minh/Hành/Thức/Danh sắc/Lục biến/Xúc/Thọ/Ái/Thủ/Hữu/Sanh/Hoại) tương giải [Bát (8) Tà -> Bát (8) Chánh] (Tri kiến/Tư duy/Ngữ/Mạng/nghiệp/Tinh tấn/Niệm/Định);
2. Hình bánh xe pháp luân khắc trong bàn tay phải (chánh lý/thuận chuyển), chuyển pháp luân (xoay chuyển/giải thoát luân hồi) luôn nằm trong tầm tay của mỗi chúng ta, chúng ta cần phải nắm bắt, gói gọn tựa như nắm lá rừng xưa Như Lai trao lại…;
3. Bàn tay trái (sai trái/nghịch giả) tháo gỡ Tam Y Giới giải thoát Dukkha.

Liễu giải:
Bát Chánh Viên Hành + Thập Nhị Duyên Khởi Viên Thông <==> Chuyển Pháp Luân

Chuyển Pháp Luân <==> Chuyên Y Tam Giới

Ký tượng TK III (hình 1), mang ngữ nghĩa hành giả/giác giả đã tròn hoá trí năng giải thông Bát Chánh/Thập Nhị Duyên Khởi, kinh hành tự tại, vô ngại khoác tam y giới, tay phải (Chánh/Thuận) sẵn sàng tháo gỡ, tay trái (Tà/Nghịch) che chắn… Về sau biến tướng, một số ảnh tượng thân không đắp y (khoả thân), cùng tư thế ngồi tự tại trên ngôi báu, hàm ý là tháo gỡ tam y đắc thành tự tại… Một số ký tượng tạo hình em bé khoả thân, ngụ ý tháo gỡ tam y giới hiển hiện khai lộ (trở về với) nguyên tánh chân thật ban đầu – nhân chi sơ tính bổn thiện – tựa như lúc ta mới chào đời (đản sinh) vậy, bàn tay phải hướng lên/ngón tay chỉ lên -> biểu ngữ nhất nhất thệ nguyện trở về Chân Như Bổn Tánh/Như Lai Tánh (Tathāgata), tay trái hướng xuống/ngón tay chỉ xuống -> biểu ngữ nhất nhất xả thoát Tam Y Giới…

Ngoài ra, ký ngữ tượng ngữ đản sinh về nghi thức tương quán đối ứng (chiếu kiến pháp tượng tương/phản quan tự kỷ) ví tựa như việc tắm gội/gội rửa sạch sẽ lớp trần cấu/lục trần phủ bám bề ngoài sắc thân bất tịnh (quán mộc) – hàm ý khế nghĩa đối với việc tu hành – khai chúng sinh tri kiến -> tiệm khai giác với những người dân thuộc vùng quê chân chất ấy, sống với nhau rất thật lòng ít khi dối gạt nhau. “Bà con xa không bằng láng giềng gần” là vậy. Những chúng sinh cộng sinh cùng lưu trú trong bầu không khí và nguồn thực dưỡng trong lành của chốn vùng quê chân chất ấy, chỉ cần tránh Sát sinh (súc vật), mầm sống (hạt giống) động thực vật, dâm dục, Say nghiện (rượu, thuốc hút, tụ hội tán chuyện, ca xướng) là thân mạng (Sắc Ấm) đã được làm sạch rồi -> dễ dàng nhập định thành công. Một điển hình là sự thành tựu của hai vị Ưu-ba-li và Tổ Huệ Năng – xuất thân từ giai cấp bần nô không có đủ điều kiện tiếp xúc với ngũ dục cấu từ thuở nhỏ đến lớn, đồng nghĩa với chưa từng phạm giới (Tiểu Giới) – đó là một dẫn chứng thiết thực giúp chúng ta cùng nhau soi lại!…

Do đó, mục Tiểu Giới trong Kinh liệt kê chi li, cặn kẽ về những sai phạm linh tinh kia – với người hiền trí thì nhận thấy quá ư là rõ ràng – nhưng đối với giới tu sĩ thời cơ, say nghiện ngũ dục và giới nhà giàu, quan lại, vua chúa phạm giới: sát sinh, tước đoạt, tà dâm, say nghiện (nhạc, kịch, giường nằm cao êm, chất chứa tài sản, y trang sặc sỡ, ăn uống vô độ phi thời, môi giới tranh đoạt, nô công phục dịch,…) thì luôn bị che mờ tâm trí (ô minh) bởi do hành thập ác + lạm phát say nghiện ngũ dục cấu mà ra.

Vì vậy, đối với những hạng người này (Phàm phu sống buông lung) nếu muốn tu học giác ngộ -> thành Phật giống như Thầy Cồ-đàm -> thì phải cố gắng rà soát đối chiếu để khắc phục dần -> tránh không bị Tiểu Giới mắc vướng (sai phạm), ngăn ngại buộc ràng thì tâm thức mới được đặng an…mà tiến tu (tinh tấn) thành chánh định. Chính vì thế nên nội dung Tiểu Giới nêu ra trong Kinh trình bày rõ ràng chi tiết đến như vậy để phàm phu tự mình soi chiếu lại chứ không phải để tán thán Như Lai, đồng thời triển khai rộng hơn ở Trung/Đại Giới về hệ lụy của tà kiến/ngữ/mạng/nghiệp, kết nối cùng hiệu ứng âm thanh chiêu linh như đã nói -> lây lan tà pháp biến tướng của giới tu sĩ nhàn cư hưởng đồ tín thí… Đấy là phạm tội nhẹ hay nặng?

Trích kinh Pháp Cú, câu 338: “Đốn cây mà chưa đào hết gốc rễ sâu bền thì cây vẫn sinh ra; đoạn trừ ái dục ( lực hấp dẫn của Ngũ Dục) mà chưa sạch căn gốc thì khổ não vẫn sanh trở lại mãi” [Bản dịch Pali]
Đốn cây không đào gốc,
Chồi tược sẽ lên hoài,
Tham ái chưa nhổ rễ,
Phiền não sao dứt sạch?

Phạm Võng Kinh Tinh Giải

Tìm thấy đâu người thầy đúng đắn trong thời mạt pháp nay? Không gì khác hơn là đối chiếu giới hạnh đúng đắn được phản ánh cơ bản qua chuẩn mực Tiểu/Trung/Đại Giới Phạm Võng thuộc Trường Bộ Kinh. Sau đây chúng ta cùng phân tích, rút ra điều ngắn gọn cốt lõi của phần Tiểu Giới trong kinh.

Quy nạp Tiểu Giới Phạm theo Ngũ Dục cấu Sát/Tranh

*SẮC: Sát sinh/Trộm cướp/Dâm dục hèn hạ/Nói láo [-> dối trá, xảo biện, thêu dệt]/Nói hai lưỡi/Nói độc ác/Nói ỷ ngữ[-> dựa dẫm, bề trên, cao ngạo, lộng ngôn, phân biệt, áp đặt,…]., Xem múa, hát, nhạc [-> âm thanh đạo cụ/lãng tụng/thi vịnh gây nghiện/chiêu cảm], diễn kịch [-> hát tuồng], Môi giới [-> cầu nối trung gian, nhân sự cộng tác], buôn bán, sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường…

*DANH: Ỷ Ngữ [-> tôn tạo danh vị, nương tựa một đấng nào đó…]

*TÀI: Trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang, giường cao/lớn; vàng/bạc [-> vật chất tạp nhạp], ; đàn bà, con gái, nô tỳ gái và trai, cừu và dê, gia cầm, heo, voi, bò, ngựa; ruộng nương đất đai,…

*THỰC: Đoàn thực: vô độ/phi thời, Dâm dục hèn hạ/Nói láo[-> dối trá, xảo biện, thêu dệt]/Nói hai lưỡi/Nói độc ác/Nói ỷ ngữ[-> dựa dẫm, bề trên, cao ngạo, lộng ngôn, phân biệt, áp đặt,…]., Thức thực/Tư niệm thực: xem múa, hát, nhạc [-> âm thanh đạo cụ/lãng tụng/thi vịnh gây nghiện/chiêu cảm], diễn kịch [-> hát tuồng]…

*THỤY: <<Sắc / Danh / Tài / Thực>> Thuỵ <<Si Ám>>

Quy nạp Tiểu Giới Phạm theo Ngũ Giới suy rộng

*SÁT SINH: Người, súc vật, cây cỏ, hạt giống,…Hành vi sử dụng hung khí, khí cụ gây tổn hại, bức hại, bạo lực, răn đe, hù doạ,…Sống phải biết bình đẳng (Samydhi/Tàm-quý), cảm thông, thương xót, chia sẻ, bảo vệ tất cả chúng sinh và các loài hữu tình,..

*TƯỚC ĐOẠT: Trộm cắp, tà hạnh (hối lộ, gian trá, lừa đảo) môi giới [-> cầu nối trung gian, nhân sự cộng tác], buôn bán, gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường, sử dụng nô công người, súc vật…

*TÀ DÂM: Dâm dục hèn hạ

*TÀ KHẨU: Nói láo [-> dối trá, xảo biện, thêu dệt], Nói hai lưỡi, nói độc ác, nói ỷ ngữ [-> dựa dẫm, bề trên, phân biệt cao/thấp, tôn tạo, áp đặt]

*SAY NGHIỆN: Đoàn thực vô độ/phi thời, xem múa, hát, nhạc [-> âm thanh đạo cụ/lãng tụng/thi vịnh gây nghiện/chiêu cảm], diễn kịch [-> hát tuồng], Trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang, giường cao/lớn; vàng/bạc [-> vật chất tạp nhạp], thu nạp đàn bà, con gái, nô tỳ gái và trai, cừu và dê, gia cầm, heo, voi, bò, ngựa, ruộng nương đất đai,…

Quy nạp Tiểu Giới Phạm theo Thập ác nghiệp suy rộng

Thập Ác Nghiệp = Tam nghiệp Thân (Sát sinh/Trộm cắp/Tà dâm) + Tứ nghiệp Khẩu (Dối gạt/Thêu dệt/Lưỡng thiệt/Thô ác) + Tam nghiệp Ý (Tham/Sân/Si)

Cùng đối chiếu lại Không cấu nhiễm Phẩm/Trung Bộ Kinh (Lược trích từ bản dịch Pali của cố HT.Thích Minh Châu):

“Này Hiền giả, các ác bất thiện pháp, cảnh giới của dục[-> Ngũ Dục] là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế”.

Như vậy, cần phải hiểu rõ các ác bất thiện tác hành từ nơi Thân-Khẩu-Ý chính là Tiểu/Trung/Đại Giới Phạm nói riêng và Ngũ Dục cấu nói chung, chứ không giản đơn là thập ác giới như chúng ta từng hiểu theo phật giáo biến tướng, đúng không? Do đó, ta có thể quy nạp phần Tiểu Giới Phạm theo Tam Nghiệp Thân-Khẩu-Ý như sau:

*THÂN:

1. Sát sinh: Người, Súc vật, Cây cỏ, Hạt giống,… Hành vi sử dụng hung khí, khí cụ gây tổn hại, bức hại, bạo lực, răn đe, hù doạ,… Sống phải biết bình đẳng (Samydhi/Tàm-quý), cảm thông, thương xót, chia sẻ, bảo vệ tất cả chúng sinh và các loài hữu tình,.. ;

2. Tước đoạt: Trộm cắp, Tà hạnh(hối lộ, gian trá, lừa đảo) Môi giới [-> cầu nối trung gian, nhân sự cộng tác], buôn bán, sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường, sử dụng nô công người, súc vật… ;

3. Tà dâm: Dâm dục hèn hạ

*KHẨU:

1. Nói láo [-> dối trá, xảo biện, thêu dệt]; 2. Nói hai lưỡi; 3. Nói độc ác; 4. Nói ỷ ngữ [-> dựa dẫm, bề trên, phân biệt cao/thấp, tôn tạo, áp đặt]

*Ý:

1. Tham: Đoàn thực vô độ/phi thời, Xem múa, hát, nhạc [-> âm thanh đạo cụ/lãng tụng/thi vịnh gây nghiện/chiêu cảm], diễn kịch [-> hát tuồng], Trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang, giường cao/lớn; vàng/bạc [-> vật chất tạp nhạp], thu nạp đàn bà, con gái, nô tỳ gái và trai, cừu và dê, gia cầm, heo, voi, bò, ngựa, ruộng nương đất đai,… ;

2. Sân: Phẫn nộ, cáu quắc, thù hằn khi không đạt mục đích, đạt như ý muốn ;

3. Si: Mê muội bị lôi cuối, bị thu hút theo…

Tóm lại, 3 quy nạp giản lược Tiểu Giới Phạm: Một là: 5 Giới cần phải tỏ tường tránh tiêm nhiễm, Hai là: 5 Dục cần phải biết mà cai nghiện dần, Ba là: 3 Nghiệp Thân-Khẩu-Ý tránh hành ác bất thiện pháp, vậy thôi… Không hiểu, không chịu hiểu, hiểu rồi quên hay cố tình không tự giác tự chủ sửa chữa (tu chỉnh. Cai nghiện Ngũ Dục/Gội rửa Ngũ Trọc/Ngăn nhiễm Thân-Khẩu-Ý) thì có nên hô hào tuyên thệ tu giác ngộ, theo Như Lai, tin Như Lai, tán thán Như Lai, khiến càng phạm thêm tội nặng (trọng tội) đại vọng ngữ dối gạt, si ám đời đời như Kinh đã dẫn?…

Giáo pháp liễu nghĩa cơ bản về tác pháp của đời thường hiển hiện lồ lộ ngay trước mắt như vậy mà không thấy, không hiểu, không biết thì sao mà thấy biết đúng pháp tánh duyên khởi trùng điệp ẩn tàng, đặng mà chuyển lưu Tam Giới?… Đó là sự thật.

Xem tiếp phần 2 tại đây.

Sự thật về Đức Phật

Tu theo Phật, học cách thành Phật theo đúng chánh pháp nguyên thuỷ, đồng nghĩa là phải luôn chuyên cần vận dụng Trí tuệ để thấu quán đúng Sự thật thì mới thật sự giải mê khai ngộ, bằng ngược lại lười tư duy, rập khuôn tuân thủ, sáo ngữ tà biện, đó thảy đều là ma đạo, là Phật giáo biến tướng… Nội dung này được trích lược từ bài giảng của Thầy Đỗ Thanh Hải trong tập sách “Phạm Võng Kinh Tinh Giải”  NXBTH Đà Nẵng 2017. Với cách lý giải khoa học của Thầy (công phu chánh định sinh tuệ tri chánh lý) , đồng thời cách trình bày tập sách phù hợp với mọi đối tượng nhận thức sẽ giúp mọi người ngộ ra rất nhiều điều ẩn mật suốt tận ngàn xưa, lần tìm nhặt lại từng chiếc lá bồ-đề trong nắm tay của Đức Thế Tôn ngày ấy…

Hãy cùng nhau soi lại con đường tu học giác ngộ sao cho đúng đắn và cùng thắp lên ánh sáng trí tuệ xuyên suốt trên quảng hành trình tâm thức tiến hóa theo đúng với chánh lý giác ngộ nguyên thủy ngày ấy mà Đức Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni đã từng truyền giảng… Đó mới thật sự gọi là đệ tử Phật 

           Nhặt lá rừng mê…

     Điểm lại dòng lịch sử phật giáo xét từ thời điểm thế kỷ thứ VI trước công nguyên, kể từ lúc giáo pháp giác ngộ (phật học) do Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm, hay còn gọi là Đức Phật Cồ-đàm Mâu-ni, truyền giảng, tính đến thời điểm hiện nay đã hơn 2600 năm trôi qua… Và kinh sách cũng đã từng trải qua nhiều giai đoạn sửa đổi, pha tạp trong giới phật giáo… Do vậy mà kinh sách phật học chính tông (nguyên thủy) theo dòng chảy thời gian bị biến dị đi rất nhiều, thậm chí sai cơ bản, đảo ngược cả chân lý.

Nguyên nhân chính là do lai tạp tiên giáo/thần giáo/huyễn giáo/ma giáo, hoặc do hiểu sai/hành sai/vi phạm giới luật cơ bản trong giáo thuyết giác ngộ mà Đức Phật đã từng chỉ dẫn. Học Phật là học cách tư duy và nhận thức đúng đắn (chánh tri kiến và tư duy), tinh cần lọc lựa (trạch chi) loại ra những chi tiết linh tinh (hay còn gọi là pháp tướng)  sai trái/xấu ác (tà pháp), để dần nhận ra tính cốt lõi bao hàm của sự vật/hiện tượng (pháp tánh).

   Tự tánh chúng sinh vốn luôn trong sạch (thanh tịnh), bình đẳng (đẳng giác), không dao động (bất nghi) cớ sao giờ đây lại mang những tướng mạo (thú tướng) giả hợp, ô trọc nếm trải biết bao vinh/nhục, lạc/khổ tương tàn như thế này? Tác hành Sát/Tranh lẫn nhau suốt nhiều đời kiếp quanh đi quẩn lại cũng chỉ vì những hành vi ấy – tương ưng nghiệp báo nghiệp – phải mãi mang thân thú hoài như vậy?… Hãy dần hồi tỉnh lại, đồng nhớ rằng mọi chúng sinh nói chung, mỗi con người chúng ta nói riêng đều chung cùng là con của cha đại ngàn và mẹ tình thương yêu bao la bất tận, tất cả đều cùng xuất xứ từ BẢN TÂM/CHÂN TÂM/NGUYÊN TÁNH vốn viên nguyên thường hằng vi diệu đẳng đồng, bởi do sai lầm ngày ấy…tự tâm ngã chấp, tự phân biệt tách ly khỏi BẢN TÂM đẳng đồng viên hợp -> tự tham cấu cùng lục trần phiền não… 

       “Tương nghiệp sinh tạo buộc ràng cũng bởi tại ta và tự giác tự chủ thoát ra nào ai khác ngoài ta? ”… Đó là sự thật.   

Tự ta gây ác nghiệp
Tự ta nhiễm cấu trần
Tự ta tránh ác nghiệp
Tự ta tịnh thân tâm,
Nhiễm/Tịnh đều do ta
Không tai thanh tịnh ai.
(Pháp Cú 165)

Hãy cùng nhau nhìn lại, và “thẳng thắn nhìn nhận chủ huyệt của những sai lầm bị khoả lấp bởi tà kiến biện thông, thì mới thật sự là người tu giác ngộ.”

Đại ngàn đường về Ta
Bước đầu con vấp ngã
Mẹ Cha nâng bước xa
Con đi không về nhà
Bước lạc, bước lạc ma
Vinh, nhục tỉnh nhận ra
Giới luật thầy chỉ ta
Thắp sáng đường về nhà
Tự giác tự giác tha
Chớ bị lầm nhà ma…

        Tương kỳ chư pháp hiện thời (chu kỳ suy mạt) cùng chúng sinh tương ngộ chốn nơi này, cùng nhau cùng hứng chịu chung cám cảnh…, chênh vênh trên biển sinh tử, tù túng trong rừng mê che chắn, thâm nhiễm tam độc tham/sân/si + tu học với rừng kinh sách nguỵ tạo mê cuốn ngày càng dày đặc che chắn lối đường xưa, đường về xa ngút ngàn trùng vinh/nhục… Nay đoàn thể TOTHA chúng ta sẽ cùng nhau từng bước từng bước tự chủ và tri kiến, cùng tỉnh giác đồng tâm đồng lọc lựa (trạch chi) chắt chiu tìm nhặt lại từng chiếc lá bồ-đề trong nắm tay của Như Lai đã lựa trao ngày ấy… Đồng tâm đồng tinh cần ươm mầm hoa giới hạnh, đồng cùng đan kết nên hoa tràng chánh pháp, dần khai hương ưu-đàm diệu pháp liên hoa, vi diệu hoá hỉ pháp vị đẳng hòa chuyển lưu thời mạt pháp…


Luôn là người Khất Sĩ
Trầm lặng giữa rừng mê
Tìm nhặt lá Bồ-đề
Kỳ mạt pháp giải mê…

Lược sử thời gian truy cứu để cùng hiểu đúng (Trạch giác) về phái Thích-ca/Thích-già/Tát-ca giáo phân phái trong phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng cùng sự biến tướng bành trướng

         Trước tiên, chúng ta sẽ cùng tìm xem sự xuất hiện của bộ tộc शाक्य [phiên âm La-tinh là ŚākyaSanskrit/SākyaPali, Hán Việt , đọc là Thích-già/Thích-ca]. Tham khảo đối chiếu lại bản đồ Ấn Độ cổ thời điểm năm 1750 TCN và năm 600 TCN để hình dung. Chúng ta cùng xem:

Theo tư liệu khảo cổ lịch sử thế giới cho biết bộ tộc SakyaThích-ca, Thích già thuộc bộ lạc Aryan xuất hiện khoảng TK XX TCN, sống du mục rải rác khắp vùng thảo nguyên Âu-Á. Vào khoảng TK XVII bộ lạc Aryan từ Đông Afghanistan cùng tôn giáo Hindu Kush thờ thần mặt trời đổ bộ dần sang: Pakistan/Bắc Ấn Độ/Nepal. Đến khoảng TK VI TCN bộ tộc SakyaThích-ca thuộc bộ lạc Aryan phân bố định cư ở: 1. Gandhara(Càn-đà-la) nay thuộc Đông Afghanistan và một phần của Tây Bắc Pakistan. Đây là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại ; 2. Sakastan ; 3. Matsya(Ma-thâu-la) phía nam thủ đô Delhi  của Ấn Độ ngày nay. Đây cũng là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại ; và bộ tộc SakyaThích-ca rải rác ở 4. Lumbidi(Lâm-tỳ-ni) phía cực bắc Ấn Độ gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), nơi sinh ra Đức Phật Cù-đàm/Cồ-đàm Sĩ-đạt-ta. Nhắc lại, thế danh (tên họ) của Đức Phật chữ Ấn Độ là शिद्धत्थTênङोतमHọ [phiên âm La-tinh SiddhārthaTên(Sa.Gautama/Pa.Gotama)Họ, phiên âm Hán Việt là: Sĩ-đạt-taTên(Sa.Cù-đàm/Pa.Cồ-đàm)Họ, sinh quán लुम्बिनी[phiên âm La-tinh Lumbidi(Lâm-tỳ-ni)]phía cực bắc Ấn Độ gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), thời điểm ra đời (đản sinh) khoảng TK VI/V/IV? TCN các kinh sách để lại không rõ ràng, phả hệ thuộc bộ tộc शाक्य(phiên âm La-tinh là Sākya, phiên âm Hán Việt là Thích-già/Thích-ca). Giáo pháp giác ngộ (phật pháp/phật học) do Ngài Cồ-đàm chỉ dạy được thịnh hành ở Ấn Độ đến gần giữa TK V thì bị suy hoá dần (biến tướng thành tôn giáo tín thần, đến TK XII thì bị diệt vong hoàn toàn). Lúc này, thời điểm khoảng giữa TK V vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma (vị Tổ cuối cùng của Đạo Phật chính thống/nguyên thuỷ tại Ấn Độ) phải thân hành sang Trung Quốc để truyền bá chánh pháp – xem như Sơ Tổ  Đạo Phật chánh tông Trung Quốc – giúp lưu truyền chánh pháp được 5 đời TổHuệ Khả -> Tăng Xán -> Đạo Tín -> Hoàng Nhẫn -> Huệ Năng. Đạo Phật chánh tông (nguyên thuỷ) thịnh hành ở Trung Quốc chưa đầy 2 thế kỷ thì cũng bị biến tướng lai tạp cùng thần giáo/tiên giáo/huyễn giáo (triết học) phát triển rộng khắp bởi sức ảnh hưởng của “Lão phật gia Võ Tắc Thiên Hoàng Đế” hoằng hoá khai thị… Và khoảng giữa TK VI – thời nhà Đường – có vị sư chánh trực là Huyền Trang (玄奘) nhận thấy quá nhiều dị biệt lẫn mâu thuẫn trong kinh sách phật giáo, nên ông đã đích thân sang Ấn Độ để truy tìm chánh kinh mang về Trung Quốc biên dịch lại…đến cuối TK XI cũng dần bị lại tạp biến tướng hoàn toàn thành tôn giáo!…

        Nhắc lại, thời điểm lúc Tổ Đạt-ma sang Trung Quốc gặp vua Lương Võ Đế để được công khai truyền bá giáo pháp chính thống (nguyên thuỷ)/pháp tánh vô tướng tự tha, nhưng bởi do vị vua này rất mê tín dị đoan/ái pháp tướng hữu vi cầu vọng nương tựa, cho nên việc Tổ Đạt-ma được chính thức hoằng hoá chánh pháp tại Trung Quốc bất thành… Do đó, Tổ đành phải ẩn trú trên đỉnh núi Thiếu Thất cao xa, sâu kín, hiểm trở cùng nhiều cây rừng rậm rạp che chắn nhằm tránh sự truy sát của triều đình…và âm thầm truyền giáo bằng phương tiện thiện xảo (khế cơ) qua công phu Tứ Niệm XứThân/Thụ/Tâm/Pháp tương hành cùng chánh niệm hợp hoà theo Võ Đạo (Thái cực nhu hoà chuyển hoá), một mặt giúp tu sinh cùng nhau tự bảo vệ bởi sự truy sát của triều đình do tập họp đám đông e bị cho là tạo phản và phạm quân lệnh tối thượng (khi quân) của vua Lương Võ Đế, cấm Tổ Đạt-ma truyền giáo…dần dần tu sinh khắp nơi hội về (sáp tùng), trong hoàn cảnh đời sống khó khăn eo hẹp, không có phương tiện ghi chép và trốn tránh triều đình ẩn trú tạm nơi đỉnh núi Thiếu Thất hiểm trở xa cách khu cư dân, cho nên các tu sinh phải cùng lưu  trú với nhau một chỗ (lâm cư), cùng cộng lực cộng sinh với nhau và cùng nhau kết nối tu học. Từ đó hình thành Tiểu Tùng Lâm Thiếu Thất Sơn (tựa như Đại Tùng Lâm thời Đức Phật hoằng hoá thuở xưa), Tiểu Tùng Lâm Thiếu Thất Sơn sau đó được còn được Thiếu Lâm Tự Viện. Chỉ vậy thôi, mà đời sau thêu dệt đủ điều về công phu thiếu lâm (mãi võ) truyền đạo, gán mát Tổ-đạt-ma sáng chế, chân truyền đòn thế hay chiêu thức này nọ, vị đạo sư nào thi triển công phu thiếu lâm tuyệt đỉnh xem như đắc đạo?!… Mặt khác, Thiếu Lâm Tự Viện (Nơi tu sinh hội tụ kết nối tu học cách tự giác giác tha) biến tướng thành nơi thờ tự(Thiếu Lâm Tự)… Chúng ta hãy cùng tham khảo thêm trích lược bài viết của cố Hoà Thượng Thích Mãn Giác trong tập sách Pháp Bảo Đàn Kinh NXB Tôn giáo 2003:

       “Bản chữ Hán tôi dịch ở đây được dựa theo bản chữ Hán đã được san định kỹ lưỡng do công phu uyên bác của giáo sư Philip B.Yampolsky Đại học Columbia (The Platform Sutra of the Six Patriarch, the Text of the Tun-Huang Manuscript with Translation, Introduction, and Notes by Philip B.Yampolsky, Columbia University Press, New York, 1967). Trong phần mở đầu của quyển sách, giáo sư Yampolsky đã cống hiến cho độc giả những dữ kiện lịch sử rõ rệt về sự thành hình Thiền tông, căn cứ theo những tài liệu được khai quật từ động Đôn Hoàng; giáo sư đã chịu khó tham khảo hàng ngàn thiên khảo cứu Trung Hoa và Nhật Bản, cho độc giả nhìn thấy lại sự diễn biến của Thiền tông tại Trung Hoa từ những thế kỷ thứ VI, VII, VIII và IX, giáo sư đã tham khảo tất cả những tài liệu dữ kiện liên hệ đến Thiền tông ở những thế kỷ ấy, mà ngay rất nhiều học giả Trung Hoa và Nhật Bản cũng ít biết đến… Những gì chúng ta biết được về những Tổ sư Trung Hoa từ Bồ Đề Đạt Ma cho đến Huệ Năng đều do những truyền thuyết nguỵ tạo ở những thế hệ sau!.. Tất cả những sử gia Trung Hoa và ngoại quốc muốn viết gì về Huệ Năng đều lấy tài liệu chứng minh từ bộ Toàn Đường văn (Đài Bắc, 1961, 20 cuốn), nhưng theo giáo sư Yampolsky thì bộ “Bộ sách Toàn Đường văn” được biên soạn vào năm 1814 và sử dụng tạp nhạp tất cả những tài liệu một cách bừa bãi, và nhiều tài liệu đã được viết ra sau này và rất gần đây, thành ra không thể tin vào giá trị của những tài liệu ấy” (Yampolsky, op. cit., trang 31)”

        Tiếp kế, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu cơ bản về lược sử phật giáo Tây Tạng/Nepal tuy ở sát biên giới Ấn Độ nhưng do truyền thống sùng bái lâu đời của dân Tây Tạng là đa thần giáo/ma giáo(lễ nghi/bùa chú) cùng quyền lực cai quản khắc nghiệt của các vị đạo sư/pháp sư thần giáo(gọi là Lạc-ma/Gu-ru), tín chúng bị ám thị, áp đặt, răn đe, làm cho khiếp sợ, luôn ngoan mê phục tùng, sùng kính, tín mê theo những huyễn thuyết/ma lực/siêu huyền tôn tạo của các thầy tu (guru) ấy, chú ngữmantra/nghi quỹtantra cấy ghép vào tâm thức cuồng tín ngay từ thuở nhỏ cùng truyền thống gia đình di căn ám thị sang, đời đời kiếp kiếp sinh ra để được phụng sự…cho nên phật giáo Ấn Độ phải trải qua thời gian dài – khoảng giữa TK VII – mới chính thức được truyền sang Tây Tạng, xét lại thực chất phật giáo thời đó đã biến tướng thành mật giáo/thần giáo Ấn Độ từ lâu… Nhắc lại, vào thời điểm TK V phật giáo ở Ấn Độ biến tướng dần thành mật giáo/thần giáo đã khiến vị Tổ thứ 28, cũng là vị Tổ cuối cùng của Đạo Phật nguyên thuỷ (chính tông) tại Ấn Độ đó là Ngài Bồ-đề Đạt-ma phải rời khỏi Ấn Độ và thân hành sang Trung Quốc để truyền bá lại chánh pháp… Đến cuối giữa TK V, vị sư Tì-ni-đa-lưu-chi cũng phải lặn lội từ Ấn Độ ngược sang Trung Quốc để thỉnh giáo Tam Tổ Tăng Xán xin tu học chánh pháp… Cùng truy chứng đối ứng tương ưng (Trạch pháp giác chi) giai đoạn lịch sử nêu trên, chúng ta cùng tự nhận thức rằng phật giáo truyền sang Tây Tạng giữa TK VII gọi là chánh tông hay chánh giáo/chánh pháp được không?…và chỉ trong thời gian ngắn đã chia ra thành nhiều phân phái (Trắng, Vàng, Đỏ, Xanh) với những dị thuyết/huyễn thuyết khác nhau cùng những tranh luận/tranh đấu rất khốc liệt giữa các chi phái này… Đến thời điểm giữa cuối TK XII, là thời điểm hưng thịnh kết nối giữa Phật giáo Tây Tạng (Tạng giáo)/Tát-ca phái cùng với Phật giáo Trung Quốc, cùng Thế lực bảo hộ (hộ pháp) của các vua chúa thời ấy… Dòng truyền thừa ས་སྐྱ་(phiên âm La-tinh là Sakya/Shakya, phiên âm Hán Việt là Tát-ca/Thích-ca) do A-đề-sa khải thị 5 vị phật sống (ngũ trí như lai….) được truyền khai giáo hóa rộng rãi…. Và cũng từ đó, tên thật của Đức Phật Cồ-đàm theo các kinh sách cổ Ấn Độ để lại, dần biến thành tên của tộc hệ Thích-ca (trùng âm với dòng tu Tát-ca/Thích-ca của Tạng giáo…), từ đó phổ biến rộng rãi trong các kinh sách của Phật giáo Tây Tạng, Trung Quốc và tới Việt Nam cũng chính từ đó… 

         Học Phật chánh tông (nguyên thuỷ chính thống), tức là học cách nhận thức và tư duy đúng đắn (Chánh Tri Kiến và Tư Duy) thì mới thật sự giúp ngộ ra chân lý, từ đó giải thoát những hiểu biết sai trái (tà tri kiến)/giải thoát tri kiến, đến thật sự giải thoát Dukkha, hãy cùng nhau chọn lọc đối chiếu (trạch chi/quán sát) qua lại tính tương đồng giữa 3 bộ Kinh cổ: Trường bộ, Trung bộ và Pháp cú – lưu ý phải tìm đọc chánh kinh – nói về Đức Phật, về những thuyết giảng của Ngài, các đạo sư tán thán phạm hạnh/đức hạnh của Ngài, tôn vinh Ngài, chúng ta đều nghe thấy duy nhất mỗi tôn danh Sa-môn Cồ-đàm hay Đức Phật Cồ-đàm.

           Lược trích phẩm Chủng đức/Trường Bộ Kinh:

       “Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama (Cồ-đàm) là bậc tôn sư trong các hàng tôn sư của nhiều người…Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được bốn chúng kính trọng, tôn quý, chiêm ngưỡng, kính nể, trọng vọng… Này các Hiền giả, thật vậy, rất nhiều Thiên, Nhân tín ngưỡng Sa-môn Gotama 

           Lược trích phẩm Tạp Lục/Pháp Cú Kinh:

       296. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Phật-đà (Buddha/giác ngộ).

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác

Vô luận ngày đêm,

Thường niệm Phật-đà.”

      297. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởngĐạt-ma [-> Dhamma]

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường niệm Đạt-ma”

       298. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Tăng-già[-> Sangha].

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

 Vô luận ngày đêm,

Thường niệm Tăng-già.”

       299. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm) phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng sắc thân.

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường niệm sắc thân.”

       300. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường vui điều bất sát.

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường vui bất sát.”

       301. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường ưa tu Thiền quán.

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường ưa thiền quán.”

        Như vậy, hãy cùng nhau tỉnh giác mà đối chiếu chọn lọc(Trạch pháp giác chi) đồng cùng nhận thức và suy nhiệm lại cho đúng đắn(Chánh tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa giữa Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni PhậtNam mô Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni Phật thì đâu thật sự gọi là Chánh Ngữ và Chánh Niệm về vị Đạo Sư tôn kính của chúng ta? Mặt khác, có vì danh xưng dòng họ Thích…(đúng nghĩa là bộ tộc Thích-ca/Thích-già) phổ biến ờ Tây Tạng mà vội cả tin đây là phật giáo chính tông của Thầy Sĩ-đạt-ta(Tên) Cồ-đàm(Họ) hay không?… Ví như dân tộc Kinh có nhiều thầy Họ…Tên: Trần…, Nguyễn…,Đinh…thì có chắc rằng người, nhóm người, mọi người dân tộc Kinh đều là cháu con của Nguyễn Trãi? cháu con của Nguyễn Trãi có chắc rằng hiểu đúng, làm đúng lời Nguyễn Trãi dạy hay không?…  Nhớ lại thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, bộ tộc Thích-ca đã gây tạo hiềm khích với vua Tỳ-lưu-ly, gây nên thù hằn sâu nặng, khiến vua mang quân sang tiêu diệt sạch dòng tộc Thích-ca, lúc ấy đệ tử Phật là Mục-kiền-liên dùng thần thông can thiệp nhưng bất thành, Đức Phật bảo rằng thần thông không thắng được nhân quả… Và đồng cùng nhau đối chiếu xem lại 28 vị Tổ Ấn Độ cho đến 5 vị Tổ chánh tông tại Trung Quốc do Tổ Đạt-ma chọn Truyền Chuyển Y Bát(xem lại ý nghĩa này ở trang 76, 77), có thấy ai ghép tiền danh họ Thích…?

         Một truyền tích về họ Thích…(theo một số chi phái của phật giáo Trung Quốc) cho rằng vào khoảng năm 220 – 300 có một nhà sư hiệu là Trúc Đạo Thanh hay còn gọi là Đạo Hinh, đồng thời vị sư này còn có thêm tên gọi là Thích Đạo Thanh… Số khác cho rằng do Thích Đạo An(312 – 385) thiết định ra…. Chúng ta hãy cùng nhau chánh tri kiến và tư duy về lịch sử phật giáo Trung Quốc tại các thời điểm: *TK III (thời Tam Quốc):

– Đạo Sư Khương Tăng Hội/Đông Ngô(Tôn Quyền trị vì); – Đạo Sư Đàm-ma-ca-la/Bắc Ngụy(Tào Tháo trị vì) ; – Đạo Sư Châu Tử Hoàng/Tây Thục(Lưu Bị trị vì) là những danh sư phật giáo nổi tiếng (trong đó Đạo Sư Khương Tăng Hội được tôn là đệ nhất danh sư), những vị ấy không thấy mang họ Thích… -> Năm 310 Đạo Sư Phật-độ-trừng từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Đạo An(312-385), Huệ Viễn(344-416) -> Năm 384 Đạo Sư Cưu-ma-la-thập từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Tăng Triệu(384–414) và Đạo Sinh(360–434). Chỉ mỗi sư Đạo An phác danh thêm họ Thích có thể hiểu theo nghĩa là ưa thích (gần như nghĩa ái), Đạo An (an bình trên đường đạo), Thích Đạo An tư nghĩa tự niệm tâm “ưa thích” thành đạt an bình trên đường đạo hay Thích Đạo Thanh tư nghĩa tự niệm tâm “ưa thích” thanh tịnh trên đường đạo…ái giác thay cho ái dục đời thường, tựa như giác nghĩa dụng giải Dục thần túc giác chi(khát khao mong muốn giác ngộ) thuộc chi phần Tứ thần túc/Tứ như ý túc trong 37 phẩm trợ đạo(Tam thập thất Bồ-đề phẩm), nhằm khéo léo cải thiện/hoàn thiện (thiện xảo) tự nhắc nhở tự tâm mình dần xoay thay chuyển/hoá giải dục mê chi trần cấu… Trong Kinh Pháp Cú 217 hỉ ái chánh hạnh/chánh kiến/chánh pháp thay cho hỉ ái thế tục, hay trong Pháp Cú 300/301 thiện xảo thay chuyển/hoá giải niềm vuiHỉ/ưa thíchÁi thế tục thành niềm vui bất sát/ưa thích thiền quánTư duy an lặng…Nghĩa là, Dụng pháp Chuyển pháp Thiện xảo Giải giới Pháp chính là vậy…

      Tóm lại, điều mà chúng ta – những người tu học giác ngộ chân chính, thật sự được gọi là đệ tử của Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm tôn kính –  cần phải hiểu đúng và tư duy đúng (Chánh Tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa (Chánh Ngữ) “Thích-ca” cùng sự đồng hoá Tát-ca phái/Thích-già giáo của Mật giáo Tây Tạng vào phật giáo… Đó là sự thật.

Để cùng chánh tri kiến và tư duy, sau đây trích một só nội dung trong kinh Phạm Võng, phần nói về tiểu, trung, đại giới:

        * Nội dung 14: Tiêu khiển/giải trí bởi những trò chơi mưu sự, tranh đọat, hơn thiệt, cải/ngụy trang,… [-> Ngũ Dục cấu Sát/Tranh + Đa thân kiến]

              14.1. Tiêu khiển/giải trí bởi những trò chơi mưu sự, tranh đọat, hơn thiệt[-> kể cả trên ĐTDĐ lẫn Internet]

          Điều này quá ư là cơ bản, nhiễm 14.1 sao dứt được thọ tưởng? Thủ hữu chấp tướng hơn/thiệt/cao thấp sao thấy được lý bình đẳng? Sao trả được nợ thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng? -> đó chẳng khác nào hành vi tước đoạt đức tin và huỷ hoại chánh pháp, huỷ hoại (sát hại) hạt giống bồ-đềcủa tín chúng một cách gián tiếp và hàng loạt!…

              14.2. Cải/Ngụy trang/Bắt chước bộ điệu ,… [-> Đa thân kiến]

        Sở hữu tướng sắc thân hữu vi của thực tại vốn dĩ là bất tịnh/vô thường rồi, mặt khác lại thọ tưởng thêm vào những tác tướng hữu vi khác: của vị thầy, của người nổi tiếng, của sắc tượng tôn tạo chế tác…, của vị thọ ký tưởng tượng… -> tâm thức thủ hữu đa sắc tướng hữu vi -> duyên sanh đa nhân cách + tự lừa dối mình + dối gạt thiên hạ… Không lo tinh cần quán chiếu đặng dần giải hoá sắc thân hữu vi của thực tại, ngược lại thọ tưởng ái thủ hữu thêm đa sắc thân hữu vi bất tịnh(22)/vô thường -> Đa thân kiến (Dukkha-Dukha)… Nếu đã là người thầy dẫn đạo, thì sao mà trả được nợ thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng? -> đó chẳng khác nào hành vi tước đoạt đức tin và huỷ hoại chánh pháp, huỷ hoại (sát hại) hạt giống bồ-đề (chủng tử phật tánh/phật tử)của tín chúng một cách gián tiếp và hàng loạt!… Tội ấy nhẹ hay nặng?

         Nhắc lại lời dạy của Tổ Đạt-ma:

       “…Chỉ mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả những tham lam, ngu si, thường làm các nghiệp ác, thì ngoài chỉ nhọc nhằn thân xác vô ích, giả hiện vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục, chẳng ra khỏi chốn luân hồi, làm sao lại thành công đức?)….. lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ?..”

     * Nội dung 15: Thọ lạc tiện nghi (giường, ghế cao/lớn/dài, nệm êm, chăn ấm cầu kỳ, sang trọng,…). 

[-> Thân kiến -> tham cấu Ngũ Dục, Lạc thọ trường sanh nạn]

15.1. Thọ lạc tiện nghi giường, ghế cao/lớn/dài…: Lúc ngủ/nghỉ trạng thái sinh học của trí não tư duy sẽ ở trong trạng thái bập bềnh ngưng lắng, nếu sắc thân thọ lạc xúc cảm giường/ghế cao/lớn/dài sẽ dễ khiến giặc thân lấn sâu vào tiềm thức làm khơi dậy sự thoả mãn, chấp cao/thấp, tăng/giảm… Mặt khác, người tu học giác ngộ chân chính luôn là người khất sĩ vô sản, nếu sử dụng giường/ghế chẳng khác nào hành vi sát sinh gián tiếp đốn phá cây trồngChúng sinh thấp sinh để lấy gỗ, gián tiếp tước đoạt công sức của người đục đẻo, cắt gọt thân cây làm giường/ghế… Đã là người thầy dẫn đạo thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng, không tinh cần liễu đạo giải thoát nợ trần, mà thêm thọ lạc giường/ghế cao/lớn/dài -> nợ chồng nợ, nghiệp chồng nghiệp…phạm tội sát sinh/tước đoạt gián tiếp là điều đương nhiên. Tội ấy nhẹ hay nặng?…

       Vị đạo sư giác ngộ luôn không ngồi ghế cao hơn mọi người(thủ chấp hảo xảo tướng thượng toạ vị tôn), ngoại trừ một vài trường hợp thuyết giảng cho số đông thính chúng, cần phải tạm sử dụng phương tiện hỗ trợ nhằm để giúp cho giọng nói được truyền xa hơn, bao quát hơn bằng cách đứng hoặc ngồi trên dốc đá cao, trên cành cây to, bởi vì thuở xưa không có điện cũng như máy khuếch âm như ngày nay.  

        15.2. Thọ lạc tiện nghi nệm êm, chăn ấm,..:Lúc ngủ/nghỉ trạng thái sinh học của trí não tư duy sẽ ở trong trạng thái bập bềnh ngưng lắng, nếu sắc thân thọ lạc xúc cảm giường/ghế cao/lớn/dài sẽ dễ khiến giặc thân lấn sâu vào tiềm thức làm khơi dậy sự thoả mãn, chấp cao/thấp, tăng/giảm…

Như đã tầm quan trọng của vải mặc vào thời xưa là quý giá biết ngần nào (công sức người lao động khổ nhọc trồng cây sợi, bông vải, thu gặt trái nhuộm, nghiền đá/cát/vỏ ốc/vỏ cây để trộn màu -> tách xe sợi -> cán dính -> phơi giặt -> nhuộm thô, tươi -> khâu kết ->…). Đã là người thầy dẫn đạo thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng, nếu thọ lạc tiện nghi nệm êm, chăn ấm,. -> tất sẽ phạm tội sát sinh/tước đoạt gián tiếp là điều đương nhiên. Tội ấy nhẹ hay nặng?…

* Nội dung 16: Dùng các đồ trang sức, mỹ phẩm, tôn tạo hình thức bề ngoài (thân, đầu, tay, chân), tẩm quất thân thể… [-> Thân kiến tập khổ đế -> tham cấu Ngũ Dục].

Đối chiếu lời dạy liễu nghĩa của Tổ Đạt-ma: “Tánh của Niết-bàn là không còn vọng tưởng”, “Tánh của nhập Niết-bàn là không còn chỗ phiền não”, “Tánh của Đắc Đạo là không còn mang thân đời sau” hàm ý thật sâu rộng, bởi vì phật giáo biến tướng biện thông vô số pháp môn, cho rằng quan điểm nhập niết-bàn/đắc đạo phải như thế này, thế nọ…hầu như là sự biến cách đặc dị biến hoá xoay vòng quanh quẩn thân tướng hữu vi nhập cảnh lạc/tịnh/hư không tưởng…bời do hiểu nhầm: “Tánh của phiền não Dukkha(25)/tr100 tựa như 84 vạn cửa pháp trói buộcBát vạn tứ thiên lao môn“. Và Tổ đã nhấn mạnh, trực chỉ rõ ràng nơi 6 cửa trọng yếu thật sự giúp giải toả mọi ràng buộc(Liễu Thật Lục Môn Yếu Chỉ). Đó chính là: *1Bát-nhã Tâm Kinh nhập, *2Phá tướng luận, *3Nhị chủng nhập, *4An Tâm Pháp Môn, *5Ngộ Tánh Luận *6Huyết mạch luận“

Sở hữu thân tướng vốn đã là bất tịnh, nay lại thọ dụng thêm pháp hữu vi để trang điểm, tô điểm, dưỡng dục, tăng tham dục mê ám tín chúng thì sao dứt được thọ tưởng thân kiến tập khổ đế cùng trùng duyên ngũ dục cấu? Sao thấu quán được chân nghĩa chư hành/chư pháp vốn là vô thường/vô ngã? Sao trả được nợ thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng? Đó chẳng khác nào hành vi tước đoạt đức tin và huỷ hoại chánh pháp, huỷ hoại (sát hại) hạt giống bồ-đề của tín chúng một cách gián tiếp và hàng loạt!… Tội ấy nhẹ hay nặng?

 Trong chi phần 16 có đề cập hành vi đội tóc giả không có nghĩa là các tất cả các đạo sư thời xưa cạo trọc đầu, đội tóc giả che đậy, cải trang… Đầu tóc búi tròn cao, vào thời ấy mang ý nghĩa thể hiện sự thông thái, tôn quý, bậc đại thượng trí, vị đạo hạnh bậc nhất,… Vì vậy cho nên một số vị đạo sư, các tu sĩ đương thời, các bậc học sĩ, các vị vương tôn, quan quyền,… đều có xu hướng đội tóc giả hoặc nón (mão/mũ) chóp/chỏm để thể hiện… Cũng có một số chi phái tôn giáo tư kiến bắt buộc tu sinh phải cạo sạch râu tóc lúc mới bắt đầu nhập môn tu học (cạo/nhổ sạch gốc rễ vô minhmàu đen của râu, tóc!) – thị tướng phân biệt tu/vô tu, trước/sau, cao/thấp – sau quá trình tu học được ấn chứng thọ ký thành đạo, sẽ được phép búi tóc cao và trở thành vị đạo sư tiếp kế… Riêng Đạo Sư Cồ-đàm thì bất chấp thân tướng, diện mạo, trang phục, đầu tóc phải như thế này thế nọ mới gọi là tu, là đạo hạnh, là trí tuệ, là vị Sa-môn hay Bà-la-môn hình thức… Ngài cho rằng tất cả những hình thức tôn tạo bề ngoài kia, thảy đều là ngũ uẩn trần xí, tứ tướng ngã/nhân/chúng sinh/thọ giả hư vọng, là pháp hữu vi vô thường/bất tịnh… Có gì đáng để sở hữu?

Một minh chứng lịch sử quý giá (H1) do đạo sư Phú-lâu-na – một trong thập đại đệ tử của Phật – vẽ lại chân dung Đức Phật Cồ-đàm lúc 41 tuổi, được phổ biến lần đầu tiên trong tác phẩm “Vrai Zen” xuất bản năm 1967 tại Pháp của thiền sư Taisen Deshimaru(1914-1982) có nói về hình ảnh thật của Đức Phật (H1) phiên bản từ nguồn tư liệu của bảo tàng Luân Đôn của nước Anh, khuôn mặt, y trang, đầu tóc của Ngài không khác gì người bình thường, những pháp tượng về sau hoạ thêm búi tóc cao trên đỉnh đầu nhằm ý nghĩa tôn vinh sự thành đạt giác ngộ của Đạo Sư Cồ-đàm không gì khác hơn ngoài con đường trí tuệ đạo hạnh bậc nhất…

Sau khi bức ảnh (H1) được công bố nảy sinh nhiều nghi vấn… Học Phật chánh tông là phải luôn tinh cần vận dụng trí tuệ đối chứng lọc lựa (trạch chi) truy tìm ra sự thật, không vội cả tin, nhắm mắt gật đầu, tín mê mù quáng… Hãy cùng chọn lọc đối chiếu truy chứng (trạch pháp giác chi) qua lại những kinh điển mang ngữ nghĩa tương đồng (chánh kinh), đồng kết hợp đối chiếu phân tích những di tích phật giáo cổ xưa nhất để giúp sáng tỏ sự thật… Trên tinh thần khoa học khách quan, chúng ta hãy cùng nhau giải toả những nghi vấn về H1 một cách thiết thực, trực chỉ vào đối tượng/đối tác (liễu vấn truy chứng) và cùng nhau dần hiểu đúng sự thật đồng cùng bảo vệ sự thật nhé…

      Nghi vấn 1:  Gương mặt giống như người Tàu, người Mông Cổ, Nepal hơn, không có vẻ là người Ấn Độ? 

      Giải nghi:  Chúng ta hãy cùng đối chứng lại lịch sử khảo cổ nói về quá trình bộ tộc SakyaThích-cadi cư từ Trung Á sang Ấn Độ, vào thời điểm TK VI TCN một số ít đến định cư ở LumbidiLâm-tỳ-nivàTây Tạng như phần lược sử đã dẫn ở trang 137. Như vậy, bộ tộc SakyaThích-caở thời điểm ấy kiểu hình/kiểu di truyền đã được thuần chủng Ấn Độ (Ấn hoá) hoàn toàn chưa? Dọc biên giới Ấn-Tạng thở ấy là vùng cao nguyên Hi-mã-lạp-sơn cách xa đồng bằng, cư dân sống quanh khu vực đó đa phần là du mục, tướng mạo dày dặn, mạnh mẽ, linh hoạt, mắt dài một mí, mày mỏng,…Mặt khác, xét về góc độ nhân chủng học/xã hội học: thời điểm TK VI TCN xã hội Ấn Độ là thời kỳ tiền đồ sắt, mật độ dân cư thưa thớt, giao thông trắc trở (biên địa), phân bố nhiều khu tự trị (quốc độ) rải rác khắp nơi (khoảng hơn vài chục quốc độ)tựa như Bắc/Trung/Nam của nước ta phân chủng Mường, Mán, Tày, Thái, Chàm, Dao, Hmông, Êđê, Girai, Mèo, Nùng, Hoa, Khmer,…thuở xưa vậy -> ngôn ngữ/văn hoá/tập tục/tôn giáo cũng đa dạng kéo theo… Bộ tộc Sakyadi cư đến sống rải rác ở vùng Lumbidi vào thời TK VI TCN chắc nào đã có thể thuần gien cùng với những cư dân ở vùng đồng bằng no ấm(mắt tròn hai mí, mày nở,…) không? Đồng cùng đối chiếu thêm với những di tích như (H2), (H3), (H4) – những cổ tượng TK II, II phật giáo (vùng Gandhāra cận giáp bắc tây bắc Ấn Độ) – đều có khuôn mặt hao giống, ta nhận thấy thế nào về khuôn mặt, đôi mắt, mái tóc ấy so với (H1)? Từ đó ta dễ dàng suy ra…   

        Nghi vấn 2:  Râu tóc xồm xoàm, không giống như các tỳ-khưu Phật giáo phải cạo râu tóc? 

         Giải nghi:  Hãy cùng đối chứng thêm những di tích cổ từ TK II về trước như một số hình ảnh mà TOTHA đã sưu tầm nêu ratr152, cho thấy rằng trong đoàn thể tu học giác ngộ (Tăng-già Mâu-ni) thời đó hầu như mọi người (những tỳ-kheo/giác giả) đều để nguyên râu tóc, các giác giả chân chínhtâm vô tướng tu không hề bận tâm với hình thức và dáng vẻ bề ngoài thể hiện tính phân biệt: tu/vô tu, hạnh/vô hạnh, hành/vô hành, giới/vô giới,…mất thời gian vô ích cho việc thường xuyên chỉnh trang đầu, tóc, râu, mặt, tay, chân, thân tướng, y trang thọ giả đúng như những gì trong nội dung 16 của Trung Giới đã nêu (xem lại trang 104) -> càng khiến thủ hữu tướng tu đặc dị, niệm niệm ngấm ngầm tăng khuếch tự ngã tướng …  -> sanh thân kiến tập đế khổ ngày thêm chồng chất mãi…niệm niệm tư lương/hệ phược thân/đầu tướng niệm, mâu thuẫn cơ bản pháp tu tứ niệm xứ mà đối tượng chánh niệm niệm xứ thân bất tịnh/thọ thị khổ/tâm vô thường/pháp vô ngã quán!… Do đó, nếu thủ chấp trước tướng hằn sâu lầm lẫn, giác kiến tư hành sai phạm cơ bản như vậy thì sao thoát khỏi Dukkha? Thuở xưa, có một số rất ít tu sinh từ nhiều chi phái của những tôn giáo khác nhau đến gia nhập cùng tăng-già mâu-ni để tu học giác ngộ, một số đã từng quen nếp sống ưa thích (Ái) búi cao tóc, hoặc cạo bỏ râu tóc hoặc bôi màu đầu/mặt/thân bởi tính đặc thù tôn giáo giáo điều trước tướng, niệm niệm thủ hữu trí tuệ thượng thừa  (búi tóc nhô cao), thường năng nhổ bỏ gốc rễ vô minh ví như màu đen kia của râu tóc hiện hữu (cạo trọc dầu)…hoặc không mặc y phục (loã thể) thủ hữu tướng thân trần tự tại…hoặc số khác khoát y trang màu sắc đặc dị thủ hữu tướng thượng nhân cao quý… Tập nhiễm tín ngưỡng giáo điều truyền thống cùng những định kiến cố hữu đã từng hằn sâu tận vào tâm khảm các tín đồ thời xưa, khiến họ chưa thể dễ dàng xả ly được ngay liền những tướng tu lập dị đã từng thọ nhiễm trước đó… Ví như trước thời nhà Thanh/Trung Quốc, truyền thống nam nhân đầu tóc để dài/y trang cổ rộng, sang thời nhà Thanh truyền thống nam nhân đầu cạo nhẵn chừa bím đuôi/y trang cổ hẹp, nếu tự trang đầu/thân ngược lại sẽ bị xem là Thân Minh/Phản Thanh bị chém đầu… Và tập quán/truyền thống kia đã từng hằn sâu vào ý thức hệ xã hội/cá nhân cộng sinh trong suốt quãng thời gian dài… Ngày nay, ra đường nếu thấy người như vậy thì mọi người sẽ gọi đó là dị nhân đúng không?… Thực tế hơn, ở Việt Nam ta vào khoảng thập niên 60 về trước bước ra đường thân mặc đồ ngắn/đầu đội nón bảo hiểm sẽ bị mọi người xem là người dị thường, ngược lại về sau này là bình thường… Và chính do những tập nhiễm tập tục thói quen tiếp dẫn (truyền thống) định hình tư tưởng hệ xã hội kích hoạt định kiến bảo thủ [Hiệu ứng quán tính sinh học sinh hình học tác ứng]…       

Chánh tri kiến về tướng đầu/thân trong định kiến xã hộitôn giáo, chính trị, văn hoá nói chung và định kiến tướng tu trong việc tu học giác ngộ nói riêng, đối với đối tượng phàm phuhạng người sống buông lung khó thể tự chủ thoát ra liền được, nhưng với nhóm người thiện trí/hiền trísống luôn tự chủ và tri kiến thì thấy rất rõ ràng và cũng rất dễ dàng giải thoát tư tưởng hệ cùng truyền thống/tập quán… Không giải thoát được tướng đầu/thân thời Minh sao thoát được sang thời Thanh, để được công nhận…gọi là người của nhà Thanh? Không giải thoát được tướng đầu/thân thời xưa sao thoát được sang thời nay gọi là người hiện đại? Tỉnh ngộ ra, tính đáo cuồng điên dại suốt bao niên đại cũng tại bởi lập dị tướng đầu/thân!.. Cũng vậy, nếu không tỉnh ngộ được tướng thân/đầu đều là pháp hữu vi bất tịnh vô thường, thì sao gọi là tu giác ngộ? Không giải thoát được tưởng tướng đầu/thân ô trọc, thì sao gọi là tu giải thoát? Sao gọi là tỳ-kheo/giác giả chân chính của Tăng-già Mâu-ni? Sao gọi là đệ tử của Đạo Sư Cồ-đàm? Đó là sự thật.

        Trở lại vấn đề còn thủ chấp thân/đầu tướng khởi tu tu đối với những chúng sinh chưa được khai giác tri kiến, bởi họ chưa vượt qua được ái lực truyền thống/tập quán tín ngưỡng đã tập nhiễm hằn sâu, nên rất khó thể thấu quán chánh niệm hành thành hạnh giới… Thuở ấy, cùng với lòng từ bi rộng mở vô biên của Đạo Sư Cồ-đàm đối với tăng-già mâu-ni. Ngài luôn cảm thông thấu hiểu, sẵn sàng dang rộng vòng tay vô ngại đại bi đón nhận mọi tín chúng khắp muôn nơi mà không hề phân biệt tôn giáo, giai cấp, kẻ trước/người sau… Ngài luôn tận tâm tận tụy giáo hoá chúng sinh trên tinh thần bình đẳng, bất phân biệt, không cấm đoán, áp đặt mọi người phải miễn cưỡng tuân thủ, không tôn tạo huyễn hoặc, giáo điều giới luật hình thức, mà không hiểu rõ bản chất cốt lõi (Tâm/Tánh) của giáo pháp… Trong những nội dung Tiểu/Trung/Đại Giới đã thể hiện quá ư là rõ ràng điều cơ bản này đúng không? Mặt khác,tính cốt lõi/bao hàm (Tâm/Tánh) của giáo pháp giác ngộ là tâm vô trụ tướngNgã/Nhân/Chúng sinh/Thọ giả, tuệ tri đến tột cùng(bát-nhã ba-la-mật-đa) thật tướng chư pháp là vô tướng, kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, Ly nhất thiết chư tướng tức danh Chư Phật,…thì đối với tướng mạo đầu/thân – báo nghiệp hiện mang này – thảy đều là pháp hữu vi thọ giả thì cớ sao phải trụ nhân: cạo/lột/quấn/đắp?.. 

 Tính trọng yếu của giáo pháp giác ngộ luôn là tự chủ tự giác tự tha tự tại thì cớ sao phải trụ/cột mãi tướng đầu/thân?… Nhắc lại, tài sản của người Khất Sĩ chân chính chỉ duy nhất 3 y phấn tảo và một bình bát bằng vỏ gáo dừa không gì khác hơn, thì dao cạo, dầu bôi láng mang theo người để xử lý râu, tóc bề ngoài kia phân biệt tu/vô tu, hạnh/vô hạnh, hành/vô hành…có đúng như thế không? Cũng vậy, răn đe người phạm tội bằng cách cạo trọc đầu bôi vôi, đột lỗ, ấn/khắc/xăm dấu,…có chắc rằng sẽ khiến cho tội phạm ấy không còn phạm tội được chăng? Đầu hói có nói lên người trí tuệ không? Đầu trọc có lọc được trọc ô không?… 

                “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”

              “Nhất thiết hữu vi pháp,

              Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán”

      Trong Kinh Pháp Cú 264 liễu nghĩa rất rõ ràng:

      “Người vọng ngữ và phá giới, dù cạo tóc, đắp y cũng chưa phải là Sa-môn, huống còn chất đầy  tham dục, làm sao thành Sa-môn?

                   Khôngphảiđầucạonhẵn,     Thân tham dục đắp y

                    Miệng nói lời thêu dệt                  Sao gọi là Sa-môn?   

        Về ngữ nghĩa thân tướng đắp y phấn-tảo/cà-sa chúng ta đã từng hiểu rất rõ ở những phần trước rồi, tương tự tướng đầu búi tóc hoặc cạo nhẵn (cạo trọc) hoặc đội mũ/mão hóa trang dị biệt…như đã vừa phân tích, người tu học giác ngộ luôn cần phải hiểu đúng sự thật “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Những gì còn có tướng thảy đều là vọng tưởng hư hoại).

    Lời dạy của Tổ Đạt-ma:

        “Nếu thấy được rằng tâm mình là Phật, chẳng cần phải cạo bỏ râu tóc, đắp y, dù là tu sĩ tại gia cũng vẫn là Phật. Nếu không thấy tánh, cạo bỏ râu tóc, đắp y vẫn là ngoại đạo” [Thiếu Thất Lục Môn Yếu Chỉ/Đệ lục môn Huyết mạch luận]

      Lời dạy của Tổ Huệ Năng:

        “Này các thiện tri thức, nếu như muốn tu hành, tại gia cũng được, không cần phải ở chùa. Nếu như ở chùa mà không tu, thì có khác chi những người ở Tây phương mà tâm địa độc ác…”  

           [Pháp Bảo Đàn Kinh, trích bản dịch cố HT.Thích Mãn Giác] 

Nghi vấn 3:  Đeo bông tai, một loại trang sức, trái nghịch với giới luật tỳ-khưu?

        Giải nghi:  Trong nội dung 16 chi phần Trung Giới đang phân tích là đối với các vị đạo sư, hàng thượng tôn đã thọ thí cung dưỡng của tín chúng vẫn còn dùng các đồ trang sức<->thọ dụng thêm tài vật (đồ trang sức). Trong giới luật tỳ-khưu là tam y nhất bình/bất nhiễm thế tục (xem lại trang 110). Nhìn lại H1 thấy tai đeo bông: Một là vẽ thêm (tượng ngữ hoa diệu âm thanh nhĩ); Hai là tài sản có trước (kỷ vật gia bảo), khác với tài sản thọ nhận về sau của tín chúng, tuy nhiên trạch cứu về trình độ mỹ thuật TK I TCN thì bông đeo tai kia là không thật. Có chăng đó chính là tượng ngữ nhặt cánh hoa rơi kết cùng cọng cỏ dại khô giữa rừng mê kia, đồng khế giải giáo nghĩa VănNghe họcTư duyTuChỉnh sửa  hay Nhĩ thức thọ pháp hoa/Giải nhĩ tặc phạm ác giới. Đồng thời, hoa tai tròn nhỏKý ngữ tinh hoa diệu âm miền tĩnh lặng mang ngữ nghĩa người trí giả trầm lặng/khiêm cung (Mâu-ni) là người luôn lắng nghe muôn loài kể cả cỏ cây hoa lá kia và luôn thấu hiểu…

Nghi vấn 4:  Trong kinh điển, mặc dù có đề cập đến Ngài Phú Lâu Na, nhưng không thấy nói Ngài có tài hội họa, vẽ chân dung?

      Giải nghi: Ngay cả nội dung Kinh Kim Cang, chúng ta đều biết có lúc ghi là này Xá-lợi-phấtTrí tuệ đệ nhất, có lúc ghi là này Tu-bồ-đềGiải Không đệ nhất. Tên nhân vật có quan trọng bằng ngữ nghĩa chánh pháp cần hiểu không? Ảnh do Phú-lâu-na hay do ai vẽ có quan trọng bằng sự thật về Đức Phật Cồ-đàm không? Hình ảnh kia do ai vẽ? Vẽ từ thời điểm nào? Vẽ như thế nào?  Vẽ bằng vật liệu gì? có quan trọng bằng sự thấy biết đúng, thấu hiểu đúng sự thật trong Phật ngôn: “Ta là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành bình đẳng như nhau và lý nghĩa bao hàm: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”cùng tuệ tridần được minh bạch không?… 

      Nghi vấn 5:Ấn Độ vào thời đức Phật chưa chế ra giấy để viết hay vẽ?

     Giải nghi:  Vật liệu dùng để ghi chép, vẽ hình thuở xưa sử dụng là da, lá bối (thiếp gỗ ghép), sau cùng là giấy. Điều mà chúng ta cần tri kiến rộng hơn, cũng có thể H1 là do người đời sau tiếp nối vẽ lại từ ảnh gốc đã kinh

trải qua bao nhiêu thế hệ lưu truyền, những vật chất tạo hình kia đều là hợp tướng hữu vi (vô ngã tướng) gồm: da/gỗ/giấy/mực/bút/người vẽ, tất cả đều tuân theo luật vô thường là hư hoại mục nát theo thời gian là hiển nhiên. Điều quý giá nhất mà chúng ta cần phải biết đó là sự thật luôn phải là sự thật và cùng nhau bảo vệ sự thật

Nghi vấn 6:Vào thời Đức Phật cho đến khoảng 500 năm sau khi Ngài nhập diệt, người Ấn Độ không có truyền thống vẽ hay tạc tượng các vị đạo sư. Để tưởng nhớ hay để tôn kính Ngài, họ chỉ nắn, tạc hoặc khắc vào đá hình bánh xe Pháp hoặc hình cây và lá bồ đề. Đến khi đoàn quân Hy Lạp xâm lăng và định cư tại miền Tây Ấn, nghệ thuật tạc hình của Hy Lạp mới được truyền vào Ấn Độ, và từ đó, có hình tượng đức Phật.

      Giải nghi:  Chỉ mỗi một di ảnh giúp nói lên sự thật giúp mọi người cùng tỉnh thức trên con đường tu học, cùng nhận ra sự thật thời mạt pháp rẫy đầy sắc tướng ngụy tôn ngụy tạo, mê hoặc biết bao chúng sinh vô tội… Với bậc đạo sư thuyết pháp đệ nhất Phú-lâu-na đồng thời đã đắc chứng A-la-hán dễ dàng nhìn ra kiếp nạn thời mạt pháp, cần phải giúp đời sau sáng tỏ vượt qua…cũng vậy sau khi Phật vừa nhập Niết-bàn giữa Phú-lâu-na và Ma-ha-ca-diếp từng bất đồng về việc linh động (khế cơ) trong cách tu khổ hạnh tương đối/tuyệt đối đối với những tu sinh mới nhập môn – giới hòa đồng tu – trong tăng-già mâu-ni thời ấy, thì việc khế truyền mỗi một di ảnh đồng giúp nói lên sự thật cũng là ý nghĩa vậy…

 Nghi vấn 7:  Tìm tòi trên mạng về các cổ vật Phật giáo trưng bày tại các viện bảo tàng Anh quốc, chưa bao giờ tìm thấy hình vẽ này, cũng chưa bao giờ tìm thấy một hình vẽ nào của đức Phật – trên giấy hay trên vải – trong thời kỳ cổ xưa đó tại Ấn Độ.

       Giải nghi:  Đối với mỗi một di ảnh quý hiếm và vô cùng nhạy cảm, dễ gây hiệu ứng phấn kích đám đông sùng tín – tâm trí lập trình bảo lưu hằng hữu – do bất đồng chánh kiến… Tương tự như những di tích khai quật về Chúa Giê-su cũng vậy, mà tính tồn tại và phát triển tôn giáo trong cộng đồng phật giáo/thiên chúa giáo, tâm trí bảo tồn (tâm bảo) hằng hữu (định kiến kiên cố)/tận tâm khảm luôn gắn liền với bao truyền thuyết tôn sùng tín/kính ngưỡng tính siêu nhiên/siêu nhân xuyên suốt hàng ngàn năm và ngày càng rộng lớn khắp thế giới. Vì vậy, bảo tàng Luân-đôn/Anh có nên duy trì trưng bày công khai những di ảnh vô cùng nhạy cảm dị ứng tín ngưỡng truyền thống như đã nêu hay không?

         Mặt khác, chúng ta có tìm thấy sự phản hồi nào của bảo tàng Luân-đôn/Anh đính chính rằng di ảnh (H1) trên là chưa hề tồn tại ở đó chăng?… 

          Điểm lại vào thời kỳ trước và sau khi Đức Phật ra đời (đản sinh), bộ tộc SākyaThích-ca định cư nhiều nhất ở vùng GandhāraCàn-đà-la, rải rác ở LumbiniLâm-tỳ-ni sát biên giới Ấn-Tạng (xem lại trang 137), Đạo Sư Cồ-đàm được sinh ra từ nơi đó, chân đất kinh hành (bộ hành niệm xứ/không dùng xe cộ), tự hành đối diện với mọi hiểm nguy, gian khó lặn lội xuyên núi rừng/vượt sông suối…trải qua suốt 49 năm khất thực/độ sanh không ngoài các nơi (quốc độ) gần vùng Bắc-Tây-Bắc Ấn Độ…luôn là người trí giả thầm lặng khiêm cung (mâu-ni) độ sanh vô ngã/tướng, tóc để dài không trau chuốt, y phấn-tảo/cà-sa, sắc diện bình thường bình dị bình đẳng như bao người bình thường (chúng sinh) khác, không cố tình tạo dáng vẻ bề ngoài dị biệt để người khác nhận ra Ngài (xem lại trang 74), Ngài thường nhắc nhở: Thấy Pháp[-> Chánh/Tánh giáo pháp/Chư Pháp] tức thấy Như Lai[-> Chư tướng Phi Tướng]… Mặt khác, ở ngoài vùng Phật thuyết pháp/vùng cách xa bắc-tây-bắc Ấn Độ thì tìm đâu ảnh vẽ thứ 2, ngoài mỗi một ảnh vẽ(khế giáo giải nghi hậu lai mạt) của ngài Phú-lâu-na thuở ấy? Tìm đâu những di tích của nhân vật lịch sử – Đạo Sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm – xuất xứ từ bắc-tây-bắc Ấn Độ ngoài vùng bắc-tây-bắc Ấn Độ với độ chuẩn xác hơn? Ví như tìm đâu di tích của nhân vật lịch sử Hai Bà Trưng xuất thân từ miền bắc Việt Nam với độ chuẩn xác hơn ngoài vùng Mê Linh thuộc bắc Việt Nam?…

        * Nội dung 17Nói những câu chuyện vô ích, tầm thường, chuyện xã hội, quân sự, chính trị, tâm linh,… [-> Quán/Quần tăng hội, tà kiến biện thông]

           Đây là hiệu ứng di căn từ hiệu ứng sinh học:  “Nghiện sắc tướng hành khẩu nghiệp” hay “Nhàn cư vi bất thiện khẩu”cũng vậy.Người say nghiện miệng nói thao thao bất tuyệt không ngừng nghỉ – im lặng đối với họ tựa như cực hình – họ có khả năng nói pháp như mưa tuôn bất luận đúng sai, hết đề tài này đến đề tài khác đan xen chằng chịt (thập cẩm tả pín lù) -> tự trói mình và tín chúng vào vòng kiềng văn từ/văn tự/lý loạn hảo xảo thuyết…khiến người nghe nghiện say cùng đùng ùn tôn vinh người say nghiện… Trong cơn say nghiệnchi giới 11 – 16 Trung Giới vị đạo sư hay Bà-la-môn kia nào biết mình đang say và luôn sai -> si mê huyễn thuyết, tà kiến biện thông lôi kéo đám đông “Tương hành khẩu nghiệp quần tăng hội”. Ví như người say nghiện rượu, thuốc lá, cà phê, ĐTDĐ, Internet vậy -> tâm ưa thích tụ hội đám đông thao thao khẩu khí diễn thuyết suốt ngày (ma khẩu hành), la cà quanh quẩn quán xá, ca tán chuyện thường tình hơn là những điều ngắn gọn thiết thực cùng giúp ích cho đời sống hằng ngày. Vị đạo sư say nghiện kia cũng vậy, ưa thích quanh quẩn pháp phàm phu (do tâm vọng loạn ngũ dục cấu), ưa thích tụ tập lễ hội tà kiến biện (ma nói) hơn là liễu thuyết giác tri kiến. Điều này, hệ lụy say nghiện dây chuyềnchi giới 11 – 16 Trung Giới+ di căn cộng hưởng đã giúp lý giải tại sao thời mạt pháp tà sư như cát sông Hằng, hí viện mọc lên như nấm rạ, tà thuyết lớn mạnh như mưa bảo tuôn cuốn, lộng lừng ngày càng lan khắp… Đó cũng là vấn nạn thế kỷ (Nhân Tai). 

          Nhắc lại lời dạy của Tổ Đạt Ma:

   “Trước sau như một[-> Như Lai], chư Phật luôn nói pháp truyền tâm[-> tâm không đuổi theo pháp, tâm thức sinh tạo tác], nhận ra được tính cốt lõi tổng quan này [-> Kiến Tánh] thì phàm phu ngu dốt cũng tu đặng thành Phật”.

          “Thuộc làu 12 bộ kinh, ngâm vịnh giảng thuyết như mưa tuôn mà không thấy tánh[-> cốt lõi bao hàm của giáo pháp giác ngộ/Pháp Tánh]  thảy đều là ma nói, thầy là vua ma, trò là dân ma”.

          Luôn ghi nhớ rằng: phật học(giáo pháp tu học giác ngộ)hayđạo phật(con đường giác ngộ) nguyên thuỷ (chính thống), tức điều mà Đức Phật đã từng dày công giúp cho chúng sinh tự mình tỉnh thức (tự giác) nhận ra (tự ngộ) và tự mình giải thoát (tự tha) mình khỏi kiếp nạn/khổ nạn, hoàn toàn không phải là sản phẩm của những học thuyết/học thuật tâm lý trấn an(văn chương chiêu cảm hỉ-lạc-an-bi/nghệ thuật xử lý tình huống/thêu dệt công đức…); hay triết lý cao siêu/trừu tượng/thần bí + huyễn thuyết tôn tạo tăng/tục, cao/thấp(thượng/hạ), áp đặt rập khuôn tuân thủ một cách mù quáng, thụ động bất suy xét đúng/sai, lai tạp theo tôn giáo mê tín gán ghép cùng với tha lực/thế lực siêu nhiên/thế lực thống trị… Đó chính là Dukkha tri kiến tướng luận (Tà kiến biện thông nạn)… 

          Mãi mê thao thao bất tuyệt tán chuyện thường tình, răn đe nhân quả, cúi đầu, khum mọp, cầu khẩn nương tựa…mà không chịu khó vận dụng trí tuệ để truy cứu tường tận giáo pháp giác ngộ (trạch pháp giác chi) để thông hiểu, đồng tư duy lại để có được nhận thức đúng đắn (chánh tri kiến và tư duy) về con đường mình đang đi (Đạo) song hành cùng hành vi (Nghiệp) mình đang tạo, ví như người thiểu trí, vô thức tự kỷ, mù đi trong rừng mê, vô định hướng đường về…thì thử hỏi cho đến bao giờ mới tỉnh nhận (giác ngộ) ra được sự thật?…

          Điều trớ trêu đáng nói thay đó là những người có trình độ học vấn cao, có trí tuệ, thiện căn tốt, nhưng bởi do lười biếng truy cứu giáo pháp giác ngộ (trạch pháp giác chi), ưa thích nương tựa, nhu nhược dựa dẫm, xu hướng theo đám đông mê tín dị đoan, biếng lười không chịu vận dụng trí tuệ sẵn có ra để mà hiểu đúng giáo pháp (chánh tri kiến & tư duy) -> dễ dàng bị những hạng người trình độ học vấn thấp, căn trí thấp hèn(không thấy tánh, nói pháp sai dối, luôn hô hào xưng tán hình tướng Phật/Bồ tát, thêu dệt nhân/quả/tội/phước), đồng bóng lòe lẹt, ngụy tôn danh vị…điều khiển, trói buộc, khuất phục ngoan ngoãn hạ mình, cúi đầu  cả tin theo những sáo từthuộc làu Hán, Phạn(cổ ngữ Ấn Độ) từ nói lại như con sáo, xáo từ(xáo trộn gán ghép những thuật ngữ giác ngộ vào những tán chuyện đời thường, phổ tác thơ/nhạc/sớ tụng bi/hài một cách tùy hứng), xảo ngữ hoang tưởng tôn tạo(tự xưng vị, công đức), bày biện hình thức tướng tượng gây mê hoặc đám đông tự nguyện kéo theo làm nô dịch và công cụ tuyên truyền đắc lực cho tà pháp(làm việc thất đức mê sảng tự kỷ thêu dệt cho đó là công đức!),… Điều này giống như chuyện người giỏi sáo tiếng Anh cứ mỗi lời thốt ra đều “đệm móm”những câu dẫn pha tạp hư cấu chuyện đời thường này, nọ(cóp nhặt/gán ghép kiến thức túi khôn nhân loại, bí quyết thành công, nghệ thuật xử lý tình huống…) + thanh âm kích hoạt(mỹ từ gieo cảm, nhấn giọng logic, xử lý kỹ thuật âm thanh) + bày biện hình thức cao sang quý phái, uy nghi, tôn tạo danh vị + chiêu thức quảng bá(đám đông tuyên truyền, truyền thông lăng xê, dựa dẫm quyền lực) -> dễ dàng thu hút đám đông cả tin mê tín theo rất nhiều!… Cần phải luôn cẩn trọng phân biệt đâu là Thuyết Pháp ≠  Giảng Pháp  ≠ Diễn Pháp đâu là Pháp thánh nhân ≠ Pháp phàm phu và đâu là Giác tri kiến khai ≠ Chúng sinh tri kiến loạn xa rời trọng tâm (Tánh) của vấn đề thiết thực là cần phải làm gì? Hiểu đúng điều gì? Phương pháp cần phải tự mình tự lực thực thi ra làm sao để thật sự chấm dứt Dukkha(sinh, lão, bệnh, tử, thất tình, lục dục,…) tức ta hoàn toàn tự tại trở về với tự tánh(vốn vô tướng). Và chúng ta – những người tu học chân chính – hãy luôn nhớ rằng hoàn toàn khác hẳn với liệu pháp kích hoạt xúc cảm tạm thời(Hỉ, An, Lạc, Bi) + chiêu thức gây mê tâm lý dài hạn như: trấn an, sáo điều nhân/quả mà chiêu an nghịch cảnh, khuyến khích hỉ ái tự nguyện nô dịch cho tướng tượng, ái lạc giả cảnh thế gian…nhất thời theo hình thức[hãy chớ bị nhầm lẫn giữa An Thân(đuổi theo pháp tướng) ≠An Tâm(Vô Tướng)]. Ấy thế mà “sáo và xáo ngữ” diễn cảm bi ai gây đánh thức lòng trắc ẩn, kích hoạt phản xạ xúc cảm của thính chúng khiến cho rơi lệ như mưa, hoặc tạp kỷ bi/hài tâm lý gieo cảm kích động lòng trắc ẩn/gây kích cười khoái lạc hư cảnh hữu vi, thêu dệt Hỉ/An/Lạc/Bi, răn dọa sáo điều nhân/quả/soi bói căn số vận mệnh…vẫn phát huy rộng rãi tác dụng làm mê hoặc rất nhiều người trầm trồ thán phục?!…và ngoan ngoãn lắng lặng nghe theo, học theo cách ấy ngày càng đông đảo, không hiểu rằng(bởi lười biếng đọc sách) đó chỉ là liệu pháp tâm lý học tạm thời của thế gian(kỹ năng sống, bí quyết/túi khôn/mẹo vặt của người đời)mà bất cứ diễn viên nghệ thuật, hát tuồng hay xướng ngôn viên, hùng biện viên chuyên nghiệp hay chuyên viên tâm lý hay thuật thôi miên nào cũng đều có khả năng làm được cả!… Qua nghệ thuật vận dụng kỹ năng âm thanh/văn từ trau chuốt/hình thức biểu cảm trương khuếch -> kích hoạt xúc cảm trắc ẩn đám đông dây chuyền, hoàn hảo đến độ khiến cho khán thính giả cảm kích tột độ khóc/cười/lụy/lạc khó thể kiềm chế… Năng lực diễn xuất thu hút mãnh liệt khiến cho các thính chúng thần tượng hóa nhân vật nhập vai đến độ nhầm tưởng họ(diễn viên, diễn giả) là những siêu nhân, thánh nhân mà họ vừa diễn xuất, vừa truyền đạt, vừa ca tụng!… -> kích hoạt hiệu ứng đám đông lây nhiễm ám thị mong muốn thiết tha được gần gũi thần tượng, lòng luôn cảm xúc trào dâng mỗi khi được nhìn thần tượng, nghe thần tượng nói/hát/ngâm/tán thán sắc tướng huyễn hoặc(hữu/vô hình) [Hội chứng SI nghiện huyễn thanh ảo thức] bất luận đúng sai -> thậm chí bị thần tượng chỉ trích, mắng chửi, sai khiển họ(những thính chúng si thanh/ái tướng) cũng cảm thấy hạnh phúc, tín mê cực độ có thể sẵn sàng hy sinh…để mong được nghe, được nô dịch (cung phụng) để có công đức!?… Nào có ngờ đâu chính diễn viên/diễn giả thần tượng giả tưởngdo khán/thính giả sinh ra kia mà ngay trong đời thường họ cũng không giải thoát được thất tình, lục dục do bị nhiễm tưởng thường xuyên(tư lương/hệ phược tướng niệm) từ bởi chính vai diễn của họ?!..đồng nghĩa với si thanh ảo thức/tự kỷ siêu nhân cùng cuốn theo đám đông “ngoan mê đồng si” không lối thoát… Mặt khác, giáo pháp giác ngộ bị suy hóa dần theo thời cuộc chẳng khác nào các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật hiện thời. Cũng vậy: văn hóa dung tục, nghệ thuật cuồng loạn, kích động, thêu dệt ủy mị bi/hài/khoái lạc tạp kỷ, tôn tạo cá nhân, triển thi những mẹo vặt cóp nhặt từ đời thường…lại có tác dụng lôi kéo đông đảo đám đông hưởng ứng một cách say mê đến độ cuồng tín -> si nghiện, đọa trụy sắc tướng -> vô thức tự kỷ -> lây nhiễm dây chuyền cùng khắp. Đó chính là một trong những ứng quả của thời mạt pháp khó thể mà nhận ra!..       

          Nhắc lại lời dạy của Tổ Đạt Ma:

       “Thời mạt pháp chúng sinh căn trí thấp hèn, thấy pháp hữu vipháp tướng thì mê muội đắm chấp, nói đến pháp vô vipháp tánh thì ngớ ngẩn xa rời”.

       Một lần nữa chúng ta hãy luôn nhớ rằng Phật học nguyên thủy là giáo pháp bình dị, thiết thực đại chúng giúp chúng sinh làm chủ hoàn toàn các xúc cảm hư ảo(bi/hỉ/lạc/an),tiêu trừ sạch vọng tưởng huyễn hoặc(kiên cố/hư minh/dung thông/u ẩn/điên đảo) để được thật sự tự do thoát khỏi Dukkha, đó là chân lý không gì khác hơn.Bởi thế cho nên với bối cảnh lịch sử cách đây hơn 2500 năm về trước – xin nhấn mạnh và xin nhắc lại –  trong điều kiện chữ viết (văn từ) chưa phổ cập, phương tiện thắp sáng thô sơ, mật độ cư dân thưa thớt, địa lý giao thông trắc trở (biên địa) -> thuật ngữ giao tiếp/học thuật chưa thống nhất, trình độ dân trí hạn chế… Do đó, nếu tôn tạo giáo pháp phức tạp, ngôn từ huyễn hoặc, siêu huyền như những quan điểm cực đoan về sau cố làm cho biến tướng dần tínhbình dị, thiết thực và đại chúng sẵn có, thì hãy thử hỏi làm sao trong vòng thời gian 49 năm thuyết pháp trong điều kiện lắm nhiều khắc nghiệt(biên địa, đa thổ ngữ, chưa phổ cập chữ viết, đa trình độ, đa thổ ngữ, bị các tôn giáo đương thời chống đối) mà Đức Phật đã dẫn dắt thành công hơn 2400 người chứng thành Thánh Quả A la hán trong đó bao gồm cả những hạng phàm phu thất học, giai cấp hạ tiện, những đối tượng đã từng phạm tội nặng trong xã hội(tướng cướp, kỹ nữ, giang hồ, gian thương)?.

   * Nội dung 18Bàn luận tranh chấp hơn thiệt (chuyện xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo,…) [-> Quán/Quần tăng hội, tà kiến biện thông]

          Say nghiệnchi giới 11-17/Trung Giới nếu không khắc phục được [Nhân]  sẽ tự nảy nở tà kiến/tà ngữ/tà khẩu [Quả] ngày càng phát triển hơn (tà tinh tấn) -> tâm ưa thích thể hiện thị uy (tà ngữ), ưa thích tranh luận hơn thiệt (tà khẩu), tự chế tác thêu dệt giáo pháp/giới luật linh tinh trong vòng quẩn của tà kiến  -> giặc khẩu ngày càng hoành hành lan khắp… Thắng luận sẽ được người người tung hô vây bám ngày càng nhiều, say nghiện tụ tập đám đông mê hoặc để được thể hiện ngày càng trương khuếch mạnh lên [Quán/Quần Tăng Hội], mặt khác đối với người thua cuộc/đám đông thua cuộc oán thán thù hằn cũng sẽ tăng dần không kém [Oán Tăng Hội]. Đó đều là Dukkha(25)/tr100.

        * Nội dung 19: Môi giới tin tức (chính trị/thời sự/xã hội/kinh tế). 

          [-> Quán/Quần tăng hội, tà kiến biện thông, Tà nghiệp<->Tà mạng]

        Say nghiệnchi giới 11–18/Trung Giới nếu không khắc phục được [Nhân] sẽ tự nảy nở thêm lắm bao sai trái, tầm thường, xấu ác (tà kiến/tà ngữ/tà khẩu/tà mạng/tà nghiệp) [Quả] ngày càng phát triển hơn (tà tinh tấn) -> nghiệp lực ngày càng chồng chất bởi vì dính mắc vào giới vua chúa, quan chức, chính trị.

Tu theo Phật, học cách thành Phật theo đúng chánh pháp nguyên thuỷ, đồng nghĩa là phải luôn chuyên cần vận dụng Trí tuệ để thấu quán đúng Sự thật thì mới thật sự giải mê khai ngộ…

Luận về Xây Chùa, Đúc Tượng, Lễ Lạy – Thiếu Thất Lục Môn Yếu Chỉ

“Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do sự hiểu biết nông cạn của mình nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ? Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, mê muội. Chỉ tham những điều lành nhỏ nhoi trước mắt, nào biết được nỗi khổ lớn mai sau? Tu học như thế chỉ tự mình nhọc công phí sức, bỏ chánh theo tà, ai bảo là được phước?” Bồ Đề Đạt Ma Sư Tổ

THIẾU THẤT LỤC MÔN YẾU CHỈ

Đệ Nhị Môn Phá Tướng Luận

(Luận về việc dẹp bỏ những cái hình tướng bên ngoài để trở về bản tâm)

Giảng luận: Bồ Đề Đạt Ma

Dịch giả: Nguyễn Minh Tiến

Biên tập: Phathocnguyenthuy.com

Phần 2: Luận về Xây Chùa, Đúc Tượng, Lễ Lạy

Hán Văn: Ngôn già-lam giả, Tây quốc ngữ, thử độ phiên vi thanh tịnh địa dã. Nhược vĩnh trừ tam độc, thường tịnh lục căn, thân tâm trạm nhiên, nội ngoại thanh tịnh, thị danh tu tạo già-lam. 

Việt dịch: Trong ngôn ngữ Tây quốc (Ấn Độ) Già-Lam (स्तूप, stūpa, hay chùa tháp) có nghĩa là muốn chỉ nơi thanh tịnh. Nếu trừ dứt ba độc, sáu căn thường trong sạch, thân tâm vắng lặng an nhiên, trong ngoài đều thanh tịnh, như vậy gọi là tạo sửa chùa tháp.

Nhiễu tháp hành đạo giả, tháp giả thị thân dã. Đương tu giác hạnh tuần nhiễu thân tâm, niệm niệm bất đình, danh vi nhiễu tháp. Kim thời thế nhân bất hội thử lý, tằng bất nội hành, duy chấp ngoại cầu, tương chất ngại thân nhiễu thế gian tháp. Nhật dạ tẩu sậu, đồ tự bì lao, nhi ư chân tánh, nhất vô lợi ích.

Như nói đi quanh tháp để tỏ lòng cung kính, thì tháp đó tức là chỉ cho thân. Cho nên cần phải tu hạnh tỉnh giác, thường quán xét thân tâm, niệm niệm không dừng nghỉ. Như thế gọi là đi quanh tháp tỏ lòng cung kính. Người đời nay không hiểu được ý nghĩa đó, trong tâm chẳng tu tỉnh giác, chỉ hướng cầu bên ngoài, dùng cái thân vật chất ngăn ngại để đi quanh nhiễu tháp thế gian, cho nên nhọc nhằn suốt ngày đêm mà tự tánh chân thật chẳng được chút ích lợi gì.

Hựu lục thời hành đạo giả, sở vị lục căn chi trung ư nhất thiết thời thường hành Phật đạo, tu chư giác hạnh, điều phục lục căn, trường thời bất xả, danh vi lục thời hành đạo.

Chỉ xét kỹ theo đó thì thấy ngay là không hợp lý. Còn nói việc ngày đêm sáu thời đi quanh cung kính1, ấy là trong sáu căn lúc nào cũng làm theo pháp Phật, thường tu các hạnh tỉnh giác, điều phục sáu căn không lúc nào buông thả. Như thế gọi là sáu thời đi quanh cung kính.

1Nguyên tác dùng hai chữ hành đạo (行道), xưa nay vẫn thường bị hiểu sai theo nghĩa là “thực hành đạo lý“. Thực ra, hành đạo ở đây mang nghĩa là “đi trên đường”, và ý nghĩa được dùng của cụm từ này liên quan đến một tập quán của người Ấn Độ vào thời đức Phật. Để tỏ lòng cung kính đối với một người hay một đối tượng thờ kính, người ta thường đi quanh người hay đối tượng ấy nhiều vòng theo chiều từ trái sang phải. Cách đi để tỏ lòng cung kính như thế cũng gọi là “đi nhiễu”, như trong cụm từ “nhiễu tháp”.

Chú tả hình tượng giả, tức thị hậu chư tổ nhất thiết chúng sanh cầu phật đạo dã. Sở vị tu chư giác hạnh, bàng pháp tượng chân dung diệu tướng, khởi vị chú tả kim đồng chi sở tác hồ. Thị cố cầu giải thoát giả, dĩ thân vi lô, dĩ pháp vi hoả, dĩ trí huệ vi xảo tượng, dĩ tam tụ tịnh giới, lục ba-la-mật dĩ vi mô quỹ, dung luyện thân trung chân như Phật tánh, biến nhập nhất thiết giới luật mô trung, như giáo phụng hành, nhất vô lậu khuyết, tự nhiên thành tựu chân dung chi tượng. Sở vị cứu cánh trường trụ vi diệu sắc thân, bất thị hữu vi bại hoại chi pháp. Nhược nhân cầu đạo, bất giải như thị chú tả chân dung, bằng hà triếp ngôn công đức?

Nói đúc vẽ hình tượng là các chư tổ đời sau muốn chỉ cho phương tiện hướng cầu con đường giác ngộ của hết thảy chúng sanh. Soi theo đó để tu mọi hạnh giác ngộ, phản ảnh bởi pháp tướng qua dung mạo toát lên tánh chân thật giúp diệu hóa các tướng, đâu phải là việc đúc vẽ bằng những thứ như vàng, đồng? Cho nên người cầu đạo giải thoát lấy thân làm lò đốt, lấy pháp làm lửa nóng, lấy trí huệ làm thợ khéo, lấy ba nhóm giới thanh tịnh cùng với sáu pháp ba-la-mật làm khuôn đúc để mà đúc luyện (tôi luyện) Phật tánh chân như trong tự thân, nhập thành hết thảy mọi khuôn phép giới luật. Vâng làm theo đúng lời Phật dạy, không hề sai sót, tự nhiên thành tựu được tướng chân thật. Đó là sắc thân rốt ráo vi diệu thường còn, chẳng phải là pháp hữu vi hoại nát. Nếu người cầu đạo không hiểu được ý nghĩa của việc đúc vẽ hình tượng như vậy, thì do đâu có thể nói là được công đức?

Hựu lễ bái giả, đương như pháp dã, tất tu lý thể nội minh, sự tuỳ quyền biến. Hội như thị nghĩa, nãi danh y pháp. Phù lễ giả, kính dã. Bái giả, phục dã. Sở vị cung kính chân tánh, khuất phục vô minh, danh vi lễ bái.

Lại nói về việc lễ lạy, cần phải theo đúng như chánh pháp. Lý trong tâm phải luôn sáng rõ, sự bên ngoài phải biết tùy hoàn cảnh mà thay đổi thích hợp. Hiểu được ý nghĩa như thế mới gọi là theo đúng như chánh pháp. Lễ tức là cung kính, lạy tức là khuất phục. Đó là nghĩa cung kính đối với chân tánh, khuất phục sự ngu si tăm tối, như vậy gọi là lễ lạy.

Nhược năng ác tình vĩnh diệt, thiện niệm hằng tồn, tuy bất lý tướng, danh vi lễ bái. Kỳ tướng tức pháp tướng dã. Hậu Chư Tổ dục linh thế tục biểu khiêm hạ tâm, diệc vi lễ bái nhất thời phương tiện. Giác ngoại minh nội, tánh tướng tương ưng. Nhược phục bất hành lý pháp, duy chấp ngoại cầu, nội tắc phóng túng tham si, thường vi ác ngiệp, ngoại tức không lao thân tướng, trá hiện oai nghi, vô tàm ư thánh, đồ cuống ư phàm, bất miễn luân hồi, khởi thành công đức?

Nếu như có thể mãi mãi dứt được tánh ác, gìn giữ niệm lành thường còn, tuy chẳng lưu tâm đến hình tướng cũng gọi là lễ lạy. Tướng lễ lạy ấy là pháp tướng. Các Tổ sau nầy vì muốn cho người thế tục tỏ lòng khiêm hạ nên cũng dùng việc lễ bái tạm làm phương tiện. Bên ngoài rõ biết, bên trong sáng tỏ, tánh và tướng cùng tương hợp với nhau. Nếu không làm theo đúng pháp như thế, chỉ mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả những tham lam, ngu si, thường làm các nghiệp ác, thì ngoài chỉ nhọc nhằn thân xác vô ích, giả hiện vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục, chẳng ra khỏi chốn luân hồi, làm sao lại thành công đức?

Sở dĩ kim nhân vô năng giải ngộ, thiết kiến kim thời thiển thức, duy tri sự tướng vi công, quảng phí tài bảo, đa thương thuỷ lục, vọng doanh tượng tháp. Hư dịch nhân phu, tích mộc điệp nê, đồ thanh họa duyên. Khuynh tâm tận lực, tổn kỷ mê tha, vị giải tàm quý, hà tằng giác ngộ? Kiến hữu vi tắc cần cần ái trước, thuyết vô vi tắc ngột ngột như mê. Thả tham hiện thế chi tiểu từ, khởi giác đương lai chi đại khổ. Thử chi tu học, đồ tự bì lao, bội chánh quy tà, thuỳ ngôn hoạch phước? 

Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do sự hiểu biết nông cạn của mình nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ? Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, mê muội. Chỉ tham những điều lành nhỏ nhoi trước mắt, nào biết được nỗi khổ lớn mai sau?1 Tu học như thế chỉ tự mình nhọc công phí sức, bỏ chánh theo tà, ai bảo là được phước?

   1Điều  lành nhỏ nhoi trước mắt tức là những việc thiện theo pháp hữu vi, dù có quả báo tốt nhưng chẳng giúp gì cho việc giải thoát. Nỗi khổ lớn mai sau tức là vòng sinh tử luân hồi triền miên chẳng dứt.

Đãn năng nhiếp tâm nội chiếu, giác quán ngoại minh. Tuyệt tam độc vĩnh sử tiêu vong, bế lục tặc bất linh xâm nhiễu. Tự nhiên hằng sa công đức, chủng chủng trang nghiêm, vô số pháp môn, nhất nhất thành tựu. Siêu phàm chứng thánh, mục kích phi dao. Ngộ tại tu du, hà phiền hạo thủ.

Chỉ cần có thể thâu nhiếp được tâm, soi chiếu bên trong, tỉnh thức rõ biết sáng tỏ bên ngoài, tham sân si vĩnh viễn dứt tuyệt, ngăn giữ sáu căn chẳng để cho ngoại trần quấy nhiễu, thì tự nhiên vô số công đức thảy đều trang nghiêm, vô số pháp môn thảy đều thành tựu, vượt phàm chứng thánh thấy ngay trước mắt, ngộ đạo trong giây lát, đợi chi đến lúc bạc đầu?

Luận về Pháp Tu trong Thiếu Thất Lục Môn Yếu Chỉ của Bồ đề Đạt Ma

Lời mở đầu

Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà. Ngài lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỳ khưu:

– “Này các Tỳ khưu, quý vị nghĩ thế nào, cái gì là nhiều hơn, số lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay số lá trong rừng Simsapà?”.

– “Bạch Thế Tôn, số lá Simsapàmà Ngài nắm lấy trong tay thật là quá ít, còn số lá trong rừng Simsapà thật là quá nhiều”.

– “Này các Tỳ khưu, cũng giống như những gì Ta đã biết rõ mà không giảng dạy cho quý vị thật là quá nhiều; còn những gì mà Ta đã giảng dạy thật là quá ít. Tại sao Ta không giảng dạy tất cả những điều ấy? Bởi vì có những điều không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho đời sống thanh cao, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Do vậy, Ta không giảng dạy những điều ấy.”

Phật dạy giáo pháp giác ngộ đều nằm trong tầm tay của chúng ta, chỉ tại chúng ta chưa biết cách nắm bắt nên cứ tìm cầu (xem, nghe, đọc…) lung tung trong sự hỗn loạn của thời mạt pháp này, xa dần nguồn cội gốc rễ kéo theo việc chúng ta bị rối loạn. Thiết mong chúng ta cùng đọc thật kỹ cửa thứ 2: Phá Tướng Luận trong Thiếu Thất Lục Môn Yếu Chỉ của tổ Đạt Ma, sẽ giúp chúng ta giải nhiều điều vướng mắc của Pháp và hình tướng.

THIẾU THẤT LỤC MÔN YẾU CHỈ

Đệ Nhị Môn Phá Tướng Luận

(Luận về việc dẹp bỏ những cái hình tướng bên ngoài để trở về bản tâm)

Giảng luận: Bồ Đề Đạt Ma

Dịch giả: Nguyễn Minh Tiến

Biên tập: Phathocnguyenthuy.com

“Ta vốn đến Trung Quốc

Truyền giáo cứu mê tình

Một hoa khai năm cành

Kết quả tự nhiên thành”

Phần 1: Luận về Pháp Tu

Hán văn

Vấn: Nhược phục hữu nhân chí cầu phật đạo, đương tu hà pháp tối vi tỉnh yếu?

Đáp: Duy quán tâm nhất pháp, tổng nhiếp chư pháp, tối vi tỉnh yếu.

Việt dịch

Hỏi: Với người có chí cầu tìm đường giác ngộ, thì pháp tu như thế nào tránh phí công mà nắm được chỗ quan trọng, thiết yếu nhất?

Đáp: Chỉ có một pháp quán tâm bao gồm được hết thảy các pháp, đó là pháp tu ít công sức mà vẫn nắm được chỗ quan trọng, thiết yếu nhất.

Vấn: Hà nhất pháp năng nhiếp chư pháp.

Đáp: Tâm giả vạn pháp chi căn bản, nhất thiết chư pháp duy tâm sở sanh. Nhược năng liễu tâm tắc vạn pháp câu bị. Do như đại thọ, sở hữu chư điều cập chư hoa quả, giai tất y căn nhi thủy sanh, cập phạt thọ khử căn nhi tất tử. Nhược liễu tâm tu đạo, tắc tỉnh lực nhi dị thành. Bất liễu tâm nhi tu đạo, tắc phí công nhi vô ích. Cố tri nhất thiết thiện ác giai do tự tâm. Tâm ngoại biệt cầu, chung vô thị xứ.

Hỏi: Vì sao chỉ một pháp lại có thể bao gồm hết thảy các pháp.

Đáp: Tâm vốn là gốc của vạn pháp. Hết thảy các pháp đều do tâm sinh ra. Hiểu thấu được tâm thì vạn pháp đều gồm đủ. Cũng như cây lớn, bao nhiêu cành nhánh, hoa quả, ban đầu thảy đều do nơi gốc rễ mà sinh ra. Khi muốn chặt cây, chỉ dứt rễ đi thì cây chết. Người tu đạo nếu rõ được tâm thì dùng ít sức mà dễ đạt kết quả, còn như chẳng hiểu được tâm thì chỉ phí công vô ích. Vì thế, hết thảy các việc thiện ác đều do nơi tâm mình, lìa tâm ra mà cầu tìm thì không đâu có được.

Vấn: Vân hà quán tâm xưng chi vi liễu?

Đáp: Bồ-tát ma-ha-tát hành thâm bát-nhã ba- la-mật-đa thời, liễu tứ đại, ngũ ấm bản không, vô ngã. Liễu kiến tự tâm khởi dụng, hữu nhị chủng sai biệt.

Vân hà vi nhị? Nhất giả tịnh tâm. Nhị giả, nhiễm tâm. Thử nhị chủng tâm pháp giới tự nhiên, bản lai câu hữu. Tuy ly giả duyên hiệp hổ tương đãi. Tịnh tâm hằng nhạo thiện nhân. Nhiễm thể thường tư ác nghiệp. Nhược bất thọ sở nhiễm, tắc xưng chi vi thánh, toại năng viễn ly chư khổ, chứng Niết- bàn lạc. Nhược tuỳ nhiễm tâm tạo nghiệp, thọ kỳ triền phú, tắc danh chi vi phàm, trầm luân tam giới, thọ chủng chủng khổ. Hà dĩ cố? Do bỉ nhiễm tâm, chướng chân như thể cố. 

Hỏi: Vì sao nói rằng quán tâm là rõ biết?

Đáp: Thường năng trải tâm tỏa khắp nhờ thực hành lâu dài pháp tu trí huệ nên rõ biết được bốn đại, năm ấm vốn là không, không thật có bản ngã, thấy rõ chỗ khởi dụng của tâm mình tạo thành hai tâm khác biệt.

Sao gọi là hai? Một là tâm trong sạch, hai là tâm nhiễm ô. Hai tâm ấy trong cõi tự nhiên xưa nay cùng sẵn có. Tuy lìa nhau nhưng gặp duyên lại hợp, đối đãi hỗ tương cho nhau. Tâm trong sạch thường ưa thích các nhân lành. Thể nhiễm ô thường nghĩ đến các nghiệp ác. Nếu không bị nhiễm ô, ấy là bậc thánh, liền có thể xa lìa mọi khổ đau, đạt đến chỗ vui Niết-bàn. Còn như theo tâm nhiễm ô mà tạo nghiệp thì bị trói buộc, che lấp, ấy là người phàm, phải trôi lăn trong ba cõi 1, chịu đủ các hình thức khổ não. Vì sao vậy? Đó là do tâm nhiễm ô che lấp đi cái thể của chân như.

      1Đoạn trích dẫn này không được tìm thấy trong kinh Thập địa, nhưng thấy xuất hiện nguyên văn trong Tối thượng thừa luận của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, cũng ghi là trích từ kinh Thập địa, chỉ khác một chữ duy nhất là trọng vân (重雲) thấy viết thành hắc vân ( 黑雲). Không biết là người soạn Thiếu Thất lục môn đã trích từ Tối thượng thừa luận hay ngược lại.

Vấn: Thượng thuyết chân như Phật tánh, nhất thiết công đức, nhân giác vi căn, vị thẩm vô minh chi tâm, dĩ hà vi căn?

Đáp: Vô minh chi tâm, tuy hữu bát vạn tứ thiên phiền não tình dục cập hằng hà sa chúng ác, giai nhân tam độc dĩ vi căn bản. Kỳ tam độc giả, tức tham, sân, si thị dã. Thử tam độc tâm, tự năng cụ túc nhất thiết chư ác. Do như đại thọ, căn tuy thị nhất, sở sanh chi diệp, kỳ số vô biên. Bỉ tam độc căn, nhất nhất căn trung, sanh chư ác nghiệp, bá thiên vạn ức, bội quá ư tiền, bất khả vi dụ. Như thị tam độc tâm, ư bản thể trung, ứng hiện lục căn, diệc danh lục tặc, tức lục thức dã.

Do thử lục thức xuất nhập chư căn, tham trước vạn cảnh, năng thành ác nghiệp, chướng chân như thể, cố danh lục tặc. Chúng danh do thử tam độc lục tặc, hoặc loạn thân tâm, trầm một sanh tử, luân hồi lục thú, thọ chư khổ não. Do như giang hà nhân thiểu tuyền nguyên, quyên lưu bất tuyệt, nãi văn di mạn, ba đào vạn lý. Nhược phục hữu nhân, đoạn kỳ bản nguyên, tức chủng lưu giai tức. 

Cầu giải thoát giả, năng chuyển tam độc vi tam tụ tịnh giới, chuyển lục tặc vi lục ba-la-mật, tự nhiên vĩnh ly nhất thiết khổ hải.

Hỏi: Như trên đã dạy rằng tánh giác ngộ là cội gốc của chân như tánh Phật cũng như hết thảy mọi công đức. Chẳng biết tâm vô minh lấy gì làm gốc?

Đáp: Tâm vô minh tuy có tám mươi bốn ngàn phiền não do ham muốn với vô số điều ác, nhưng hết thảy đều do cội gốc là ba độc. Ba độc ấy là: tham lam, sân hận và si mê. Ba tâm độc này bao gồm hết thảy các điều ác. Giống như cây lớn, tuy chỉ một gốc nhưng sinh ra vô số lá cây, cội gốc ba độc này, mỗi mỗi cũng đều sinh ra các nghiệp ác, càng ngày càng nhiều hơn, không thể lấy gì mà so sánh được. Từ trong bản thể của ba tâm độc này ứng hiện thành sáu căn, cũng gọi là sáu giặc, chính là sáu thức đó.

Do nơi sáu thức ấy mà có sự tiếp nhận của các căn, rồi sinh ra sự đắm chấp, tham muốn đối với hết thảy ngoại cảnh, thường tạo thành các nghiệp ác, che lấp bản thể chân như, vì thế mà gọi là sáu giặc. Chúng sinh do nơi ba độc, sáu giặc này mà rối loạn cả thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, trôi lăn luân chuyển trong sáu đường, chịu mọi sự khổ não. Giống như sông lớn bắt nguồn từ dòng suối nhỏ. Dòng suối nhỏ mà chảy mãi không thôi nên mới có thể thành ra mênh mông tràn đầy, muôn dặm sóng nước. Nếu như có người lấp đi nguồn suối, thì các dòng nước thảy đều dứt mất.

Người cầu giải thoát có thể chuyển hóa ba độc thành ba nhóm giới thanh tịnh1, chuyển hóa sáu giặc thành sáu ba-la-mật2, khi ấy tự nhiên vĩnh viễn xa lìa biển khổ.

1Ba nhóm giới thanh tịnh (tam tụ tịnh giới), bao gồm: 1.Nhiếp luật nghi giới (攝律儀戒): các điều giới luật giúp người tu nhiếp phục được thân tâm, hình thành các oai nghi. Tùy theo sự phát nguyện khác nhau, có thể là Ngũ giới (năm giới), Thập giới (mười giới) hay Cụ túc giới (250 giới)… 2.Nhiếp thiện pháp giới (攝 善法戒): xem việc tu tập, thực hành hết thảy các điều thiện là giới, nên cũng gọi là Nhiếp thiện phụng hành (衆善奉行). 3.Nhiếp chúng sanh giới (攝眾生戒), cũng gọi là nhiêu ích hữu tình giới (饒益有情戒), xem việc làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh là giới. Các nhóm giới này giúp cho người trì giới được thân tâm trong sạch, không cấu nhiễm, nên được gọi chung là tịnh giới.

      2Sáu ba-la-mật(lục-ba-la-mật): sáu pháp tu tập giúp đạt đến sự giải thoát, cũng ví như con thuyền có thể đưa người qua sông. , Ba-la-mật nói đủ là ba-la-mật-đa dịch âm từ tiếng Phạn là pāramitā, Hán dịch nghĩa là đáo bỉ ngạn (到彼岸), có nghĩa là “đến bờ bên kia“. Bờ bên kia là cách nói hình dung để chỉ cảnh giới giải thoát, so với bờ bên này là cảnh giới phàm phu, trần tục. Và khoảng cách giữa hai bờ là con sông mê, chỉ cho sự mê muội do vô minh che lấp của chúng sinh.

Vấn: Lục thú tam giới quảng đại vô biên, nhược duy quán tâm, hà do miễn vô cùng chi khổ?

Đáp: Tam giới nghiệp báo duy tâm sở sanh. Bản nhược vô tâm ư tam giới trung, tức xuất tam giới. Kỳ tam giới giả, tức tam độc dã. Tham vi dục giới, sân vi sắc giới, si vi vô sắc giới. Cố danh tam giới. Do thử tam độc, tạo nghiệp khinh trọng, thọ báo bất đồng, phân quy lục xứ, cố danh lục thú. 

Hỏi: Ba cõi, sáu đường rộng lớn vô biên, chỉ theo một pháp quán tâm sao có thể thoát được hết những khổ đau không cùng tận?

Đáp: Nghiệp báo trong ba cõi đều do tâm sinh. Nay nếu có thể vô tâm ở trong ba cõi, liền thoát ra khỏi ba cõi. Ba cõi, tức là ba độc đó. Tham Dục giới, Sân Sắc giới, Si Vô sắc giới. Cho nên gọi là ba cõi. Do nơi ba độc ấy mà tạo các nghiệp nặng nhẹ khác nhau, nhận lấy quả báo khác nhau, chia về sáu cảnh giới mà gọi là sáu đường.

Vấn: Vân hà khinh trọng phân chi vi lục?

Đáp: Chúng sanh bất liễu chánh nhân, mê tâm tu thiện, vị miễn tam giới, sanh tam khinh thú.

Vân hà tam khinh thú? Sở vị mê tu thập thiện, vọng cầu khoái lạc, vị miễn tham giới, sanh ư thiên thú. Mê trì ngũ giới, vọng khởi ác tăng, vị miễn si giới, sanh ư nhân thú. Mê chấp hữu vi, tín tà cầu phước, vị miễn si giới, sanh a-tu-la thú. Như thị tam loại, danh tam khinh thú. 

Hỏi: Thế nào là sự nặng nhẹ chia ra sáu đường?

Đáp: Chúng sinh không hiểu được cái nhân thành chánh giác,1 để tâm mê theo việc làm điều thiện, chưa thoát ra khỏi ba cõi, sinh về ba cảnh giới nhẹ.) [1Nhân thành chánh giác: Thiền tông chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, chính là dạy người hiểu rõ cái nhân thành chánh giác. Tu tập hết thảy các điều thiện, đó là tạo ra thiện nghiệp, tất sẽ nhận lấy thiện báo, nhưng hoàn toàn không thể nhờ đó mà được giải thoát, ra khỏi ba cõi, sáu đường. Chính theo nghĩa này mà tổ Đạt-ma bảo vua Lương Võ Đế là “xây chùa, độ tăng đều không có công đức”, tức là không thể dựa vào đó để cầu giải thoát được. Vì thế, cốt yếu của cả tập luận này cũng không ngoài việc làm rõ cái nhân thành chánh giác, tức là phương cách tu tập để đạt đến sự giác ngộ, giải thoát.

Thế nào là ba cảnh giới nhẹ? Đó là mê theo mười điều thiện, vọng cầu sự khoái lạc, chưa thoát tâm tham, sinh về các cõi trời; mê giữ theo năm giới, vọng sinh lòng thương ghét, chưa thoát tâm sân, sinh về cõi người; mê chấp hữu vi, tin tà cầu phước, chưa thoát tâm si, sinh về cõi a-tu-la. Phân ra ba loại như vậy gọi là ba cảnh giới nhẹ.)

Vấn: Vân hà tam trọng thú?

Đáp: Sở vị tòng tam độc tâm, duy tạo ác nghiệp, đọa tam trọng thú. Nhược tham nghiệp trọng giả, đoạ ngạ quỷ thú. Sân nghiệp trọng giả, đoạ địa ngục thú. Si nghiệp trọng giả, đoạ súc sanh thú. Như thị tam trọng thông tiền tam khinh, toại thành lục thú. 

Cố tri nhất thiết khổ nghiệp do tự tâm sanh. Đãn năng nhiếp tâm, ly chư tà ác, tam giới lục thú luân hồi chi khổ tự nhiên tiêu diệt, tức đắc giải thoát.

Hỏi: Thế nào là ba cảnh giới nặng?

Đáp: Đó là theo ba tâm độc mà tạo toàn các nghiệp ác, phải đọa vào ba cảnh giới nặng. Như nghiệp tham nặng thì đọa vào cảnh giới ngạ quỷ. Nghiệp sân nặng thì đọa vào cảnh giới địa ngục. Nghiệp si nặng thì đọa vào cảnh giới súc sanh. Ba cảnh giới nặng này cùng với ba cảnh giới nhẹ đã nói ở trên hợp thành sáu đường.

Do đó mà biết là hết thảy mọi nghiệp khổ đều do tâm sinh. Chỉ cần thâu nhiếp được tâm, lìa bỏ những điều tà ác thì những cảnh khổ trôi lăn luân chuyển trong ba cõi, sáu đường đều tự nhiên diệt mất, liền được giải thoát.

Vấn: Như Phật sở thuyết: “Ngã ư tam đại a-tăng- kỳ kiếp, vô lượng cần khổ, phương thành Phật đạo.” Vân hà kim thuyết duy chỉ quán tâm nhi chế tam độc tức danh giải thoát? 

Đáp: Phật sở thuyết ngôn, vô hư vọng dã. A-tăng-kỳ kiếp giả, tức tam độc tâm dã. Hồ ngôn a-tăng-kỳ, Hán danh bất khả số. Thử tam độc tâm, ư trung hữu hằng sa ác niệm, ư nhất nhất niệm trung giai vi nhất kiếp. Như thị hằng sa bất khả số dã, cố ngôn tam đại a-tăng-kỳ. 

Chân như chi tánh, ký bị tam độc chi sở phú cái, nhược bất siêu bỉ tam đại hằng sa độc ác chi tâm, vân hà danh vi giải thoát. Kim nhược năng chuyển tham sân, si đẳng tam độc tâm vi tam giải thoát, thị tắc danh vi đắc độ tam đại a-tăng-kỳ kiếp. Mạt thế chúng sanh, ngu si độn căn, bất giải Như Lai tam đại a-tăng-kỳ kiếp bí mật chi thuyết, toại ngôn thành Phật trần kiếp. Tư khởi bất nghi ngộ hành nhân, thối Bồ-đề đạo.

Hỏi: Phật dạy rằng: “Ta trải qua ba đại a-tăng-kì kiếp, biết bao siêng năng khó nhọc, nay mới thành quả Phật.” Vì sao nay lại nói rằng chỉ theo pháp quán tâm, chế ngự được ba độc đủ gọi là giải thoát?)

Đáp: Lời Phật dạy không sai dối.A-tăng-kì kiếp đó chính là ba tâm độc. Tiếng Phạn nói a-tăng- kì (Asaṃkhya), dịch nghĩa không thể tính đếm. Trong ba tâm độc ấy có vô số niệm ác, mỗi một niệm đều là một kiếp. Vậy nên số kiếp thật không thể tính đếm, mới nói là ba đại a-tăng-kì.

Tánh chân như đã bị ba độc che lấp, nếu không vượt qua được cái tâm vô số niệm ác độc ấy, thì sao gọi là giải thoát? Nay nếu có thể chuyển hóa ba tâm độc là tham, sân, si thành ba cửa giải thoátthì xem như vượt qua được ba đại a-tăng-kì kiếp. Chúng sanh vào thời mạt pháp căn tánh chậm lụt ngu si, không hiểu ra được ý nghĩa sâu kín của “ba đại a-tăng-kì” trong lời Phật dạy, cho rằng thành Phật phải trải qua vô số kiếp. Điều ấy há chẳng phải là làm cho người tu nhầm lẫn sinh nghi mà lùi bước trên đường cầu đạo hay sao?)  1Ba môn giải thoát(Tam giải thoát hay Tam giải thoát môn), Tiếng Phạn (.) là vimoka, cũng thường được hiểu là ba cánh cửa giải thoát. Đây là ba phép quán giúp người tu đạt đến sự giải thoát, bao gồm: Không (空, tiếng Phạn: śūn­yatā), Vô tướng (無相, tiếng Phạn: āni­mit­ta) và Vô nguyện (無願, tiếng Phạn: apra­ihi­ta).

Vấn: Bồ-tát, do trì tam tụ tịnh giới, hành lục ba-la-mật, phương thành Phật đạo. Kim linh học giả duy chỉ quán tâm, bất tư giới hạnh, vân hà thành Phật? 

Đáp: Tam tụ tịnh giới giả, tức chế tam độc tâm dã. Chế tam độc tâm thành vô lượng thiện tụ. Tụ giả hội dã. Vô lượng thiện pháp phổ hội ư tâm, cố danh tam tụ tịnh giới. 

Lục ba-la-mật giả, tức tịnh lục căn dã. Hồ danh ba-la-mật, Hán danh đạt bỉ ngạn. Dĩ lục căn thanh tịnh bất nhiễm lục trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ-đề ngạn, cố danh lục ba-la-mật. 

Hỏi: Bồ Tát nhờ vâng giữ ba nhóm giới thanh tịnh, thực hành sáu pháp ba-la-mật mới thành quả Phật. Nay dạy người học chỉ theo pháp quán tâm, không tu giới hạnh thì làm sao thành Phật?)

Đáp: Ba nhóm giới thanh tịnh, chính là cái tâm chế ngự được ba độc. Chế ngự được ba tâm độc thì vô số điều lành nhóm lại. Vô số pháp lành đều nhóm lại nơi tâm, nên gọi là ba nhóm giới thanh tịnh.

Sáu pháp ba-la-mật, tức là sáu căn được thanh tịnh. Tiếng Phạn nói ba-la-mật (Pāramitā), dịch nghĩa là “đến bờ bên kia”. Khi sáu căn thanh tịnh chẳng nhiễm sáu trần liền qua khỏi sông phiền não, đến bờ giác ngộ. Vì thế gọi là sáu ba-la-mật.

Vấn: Như kinh sở thuyết, tam tụ tịnh giới giả, thệ đoạn nhất thiết ác, thệ tu nhất thiện, thệ độ nhất thiết chúng sanh. Kim giả duy ngôn chế tam độc tâm, khởi bất văn nghĩa hữu quái? 

Đáp: Phật sở thuyết kinh, thị chân thật ngữ. Bồ- tát ư quá khứ nhân trung tu hành thời, vị đối tam độc, phát tam thệ nguyện, đoạn nhất thiết ác, cố thường trì giới, đối ư tham độc. Thệ tu nhất thiết thiện, cố thường tập định, đối ư sân độc. Thệ độ nhất thiết chúng sanh, cố thường tu huệ, đối ư si độc. 

Do trì như thị giới, định, huệ đẳng tam chủng tịnh pháp cố, năng siêu bỉ tam độc thành Phật đạo dã. chư ác tiêu diệt, danh chi vi đoạn. Chư thiện cụ túc, danh chi vi tu. Dĩ năng đoạn ác tu thiện tắc vạn hạnh thành tựu. Tự tha câu lợi, phổ tế quần sanh, danh chi vi độ.

Cố tri sở tu giới hạnh bất ly ư tâm. Nhược tự tâm thanh tịnh, tắc nhất thiết phật độ giai tất thanh tịnh. Cố kinh vân: Tâm cấu tắc chúng sanh cấu, tâm tịnh tắc chúng sanh tịnh. Dục đắc tịnh độ, đương tịnh kỳ tâm, tuỳ kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh, tam tụ tịnh giới, tự nhiên thành tựu.

Hỏi: Kinh dạy rằng, người tu ba nhóm giới thanh tịnh là: thề dứt hết thảy mọi điều ác,1 thề tu hết thảy mọi điều thiện,2 thề độ hết thảy chúng sanh.3 Nay chỉ nói riêng việc chế ngự ba tâm độc, há chẳng phải là có chỗ trái với nghĩa kinh hay sao?) 1Tức là Nhiếp luật nghi giới. Nhờ giữ giới mà dứt được hết thảy mọi điều ác, chẳng hạn như: không sát sinh, không trộm cắp…  2Tức là Nhiếp thiện pháp giới.  3Tức là Nhiếp chúng sanh giới hay Nhiêu ích hữu tình giới

Đáp: Kinh điển do Phật thuyết là lời chân thật. Bồ Tát tu hành gieo nhân trước kia, vì đối trị ba độc mà phát ba thệ nguyện. Thệ dứt hết thảy mọi điều ác nên thường giữ giới, đối trị với tham lam. Thệ tu hết thảy mọi điều thiện nên thường tập định, đối trị với sân hận. Thệ độ hết thảy chúng sanh nên thường tu trí huệ, đối trị với si mê.

Do giữ theo ba pháp thanh tịnh là giới, định, huệ như vậy, nên có thể vượt trên ba độc kia mà thành quả Phật. Các điều ác không còn, nên gọi là dứt. Các điều thiện đầy đủ, nên gọi là tu. Đã có thể dứt ác tu thiện thì muôn hạnh đều thành tựu. Lợi mình, lợi người, cứu vớt mọi chúng sanh, nên gọi là đưa người qua bến giác

Do đó mà biết rằng việc tu tập giới hạnh không lìa khỏi tâm. Nếu tâm thanh tịnh thì hết thảy các cõi giác cũng đều thanh tịnh. Vì thế nên trong kinh dạy rằng: Tâm nhiễm ô thì chúng sinh nhiễm ô, tâm thanh tịnh thì chúng sinh thanh tịnh. Muốn được cõi thanh tịnh, tâm phải thanh tịnh. Do tâm thanh tịnh, cõi giác liền thanh tịnh. Ba nhóm giới thanh tịnh tự nhiên thành tựu.

Vấn: Như kinh sở thuyết, lục ba-la-mật giả, diệc danh lục độ. Sở vị: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Kim ngôn lục căn thanh tịnh danh ba-la-mật giả, hà vi thông hội? Hựu lục độ giả, kỳ nghĩa như hà?

Đáp : Dục tu lục độ, đương tịnh lục căn, hàng lục tặc. Năng xả nhãn tặc, ly chư sắc cảnh, danh vi bố thí. Năng cấm nhĩ tặc, ư bỉ thanh trần, bất linh phóng dật, danh vi trì giới. Năng phục tị tặc, đẳng chư hương xú, tự tại điều nhu, danh vi nhẫn nhục. Năng chế thiệt tặc, bất tham chư vị, tán vịnh giảng thuyết, danh vi tinh tấn. Năng hàng thân tặc, ư chư xúc dục, trạm nhiên bất động, danh vi thiền định. Năng điều ý tặc, bất thuận vô minh, thường tu giác huệ, danh vi trí huệ. Lục độ giả, vận dã, lục ba-la- mật nhược thuyền phiệt, năng vận chúng sanh đạt ư bỉ ngạn, cố danh lục độ.

Hỏi: Trong kinh có dạy sáu pháp ba-la-mật, cũng gọi là sáu độ. Đó là: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Nay nói rằng sáu căn thanh tịnh là pháp ba-la-mật thì làm sao phù hợp được? Lại còn nói sáu độ đó, ý nghĩa như thế nào?

Đáp: Muốn tu sáu độ, phải làm cho sáu căn thanh tịnh, hàng phục sáu giặc. Buông bỏ được giặc mắt, lìa hết cảnh vật, hình sắc, gọi là bố thí. Ngăn cấm được giặc tai, không buông lung phóng túng theo âm thanh, gọi là trì giới. Hàng phục được giặc mũi, đối với các mùi dù thơm hay thối đều tự điều hòa chẳng xao động, gọi là nhẫn nhục. Chế ngự được giặc lưỡi, không tham đắm các vị ngon ngọt, không mê thích những việc ngâm vịnh, giảng thuyết, gọi là tinh tấn. Khuất phục được giặc thân, đối với các ham muốn xúc chạm của thân thể giữ được sự trong sạch chẳng lay động, gọi là thiền định. Điều phục được giặc ý, chẳng thuận dòng vô minh, thường tu trí huệ giác ngộ, gọi là trí huệ. Sáu độ là phương tiện đưa người sang bến giác. Sáu phép ba-la-mật cũng như thuyền bè, có thể giúp đưa chúng sinh đến được bờ bên kia, nên gọi là sáu độ.

Vấn: Kinh trung sở thuyết, Phật linh chúng sanh tu tạo già lam, chú tả hình tượng, thiêu hương tán hoa, nhiên trường minh đăng, trú dạ lục thời, nhiễu tháp hành đạo, trì trai lễ bái, chủng chủng công đức, giai thành Phật đạo. Nhược duy quán tâm tổng nhiếp chư hạnh, thuyết như thị sự, ưng hư vọng dã? 

Đáp: Phật sở thuyết kinh, hữu vô lượng phương tiện, dĩ nhất thiết chúng sanh độn căn hiệp liệt, bất ngộ thậm thâm chi nghĩa, sở dĩ giả hữu vi dụ vô vi. Nhược phục bất tu nội hạnh, duy chỉ ngoại cầu, hy vọng hoạch phước, vô hữu thị xứ.

Hỏi: Trong kinh Phật dạy chúng sinh tạo sửa chùa tháp, đúc vẽ hình tượng, đốt hương, rải hoa, đèn thắp sáng đêm ngày, đi quanh cung kính, ăn chay lễ bái… đủ mọi công đức mới thành quả Phật. Nếu chỉ một phép quán tâm gồm đủ hết các hạnh, vậy lời Phật dạy như trên hẳn là sai dối?

Đáp: Kinh điển do Phật thuyết có vô số phương tiện. Vì hết thảy chúng sanh căn thấp trí hèn, không hiểu được nghĩa lý rất thâm sâu nên mới dùng pháp hữu vi làm ví dụ để nói pháp vô vi. Nếu không tu các hạnh trong tâm, chỉ cầu tìm bên ngoài để mong được phước, thật là vô lý!

Hết phần 1. Đón xem tiếp phần 2: Luận về chùa tháp, đúc tượng, lễ lạy.

Nhận diện những vướng mắc để vượt qua trên con đường tu học giác ngộ

Trong những bước đầu tìm hiểu về Phật học hầu như đa số mọi người đều bị vướng mắc rất nhiều về những thuật ngữ Hán Việt chuyên biệt sử dụng xen lẫn trong giáo pháp. Mà sự trói buộc (Nhược tùy ư văn giáo) áp đặt tuân thủ theo bởi do nhiều nguyên nhân:

1. Thời xưa kia chiếu chỉ (pháp lệnh) ban ra của vua chúa được quần thần, chúng dân xem đó như  là “ngôi báu thứ 2” thay mặt vua chiếu lệnh khiến mọi người tự động quỳ mọp để nghinh tiếp và răm rắp tuân thủ một cách bất tư nghì (Quân xử thần tử thần bất tử bất trung)… Đất nước Việt Nam ta ngàn năm nô lệ giặc Tàu nên di truyền tâm thức về sự qui phục tuân thủ rập khuôn theo Hán từ một cách vô thức, tự ám thị vướng kẹt vào văn từ huyễn hảo, dẫn tới hiểu sai giáo pháp là điều không thể tránh khỏi…;

2. Những thế hệ sau tự chế tác theo tư kiến tôn tạo (hệ quả từ việc tu sai đường lạc lối mà sanh ra tà kiến, hoặc rập khuôn theo các vị vua chúa xuất gia -> bị pháp hữu vi và hình sắc chế ngự) -> gây mê hoặc tín đồ, vọng tưởng hướng cầu tướng tượng cảnh sắc bên ngoài (nhập tướng ly tánh) mà đánh mất dần tự tánh (bản tâm) vốn tự tại,  thanh tịnh, hằng vĩ của chính mình -> dẫn đến tà kiến biện thông (ma nói) gây nên sự biến thể dị biệt theo thời gian;

3. Lỗi do người dịch thuật, người giảng lại nhiệt tâm hoặc mê muội, hiểu sai, ngụy tôn(danh vị, học thuật, quyền thế, hình thức đạo mạo), bị năng lượng đen điều khiển, đám đông kích hoạt(đồn thổi, xưng tán),… -> tự tạo nên vòng kim cô trói buộc mãi  lẫn nhau suốt bao đời kiếp. Do đó, muốn tháo gỡ dần hẵn các gút mắc như đã nêu – không cách nào khác – ngoài việc các bạn cần nên cố gắng đọc thật kỹ, hiểu thật rõ ràng nội dung căn bản được trình bày ở phần nầy sẽ giúp cho chúng ta tự hóa giải tốt những điều như sau:

1. Điều vướng mắc thứ nhất

Không bị trói buộc vào những lý luận huyễn hoặc [tín điều tôn giáo ngụy xưng, gán ghép lai tạp pháp thế gian(tâm lý học chiêu an, kỷ năng/bí quyết/túi khôn sống…)], bất bình đẳng trái ngược hoàn toàn với tinh thần Phật học nguyên thủy là trực diện vào lý nghĩa Khổ và Diệt Khổ, ngắn gọn dễ hiểu, bình đẳng, đại chúng, luôn khuyến khích mọi người tự tin, tự lực nơi chính mình và không bày biện hình thức tôn tạo, giáo điều tuân thủ rập khuôn, thề thốt hù dọa nhân/quả, tội/phước, chiêu an tâm lý (gán ghép/lai tạp tâm lý học/bí quyết thành công giúp gở rối tạm thời đối cảnh),  bày biện sắc cảnh hưởng thụ chiêu cảm [thanh nhàn (hư an), vui sướng(hư hỉ lạc), cởi tâm tùy tướng(hư bi, từ, xả)…] thu phục đám đông -> tâm đuổi theo pháp và  thức bị hình sắc chế ngự (lời dạy Tổ Đạt Ma).

Đây chính là điều  – nói đúng hơn là vấn nạn – cố hữu, thủ lậu [phô diễn/xưng tán lục tướng hư minh (an/lạc/hỉ/bi/từ/xả) –biến tướng thành ma sự quấy rối gây nên đột biến từ nơi ngũ ấm (ngũ thập ấm ma) làm che mờ chủng trí giác ngộ (kiến chư pháp vô tướng cùng chúng sanh đồng thể)… – trích lược Kinh thủ lăng nghiêm (bản Hán dịch của cố Hòa thượng Tuyên Hóa)] khuyến dụ gây mê hoặc rất nhiều người – bị trói buộc vào những lý luận huyễn ảo, tự áp đặt giáo điều tuân thủ, không đúng trọng tâm cốt lõi của giáo pháp (tánh của giáo pháp) là thẳng hướng trực chỉ vào điều duy nhất vào Khổ và Diệt Khổ do sự trói buộc của chư pháp mà ra, đồng thời cách duy nhất là tự chính mình tự tin tự lực tự giải thoát mình thật sự tự do -> tự tại -> tự giác giác tha không gì khác hơn (Như Lai chỉ là người chỉ đường, là thầy thuốc chữa phiền não. Ai tự thắp đuốc để đi thì người ấy thấy, ai uống đúng thuốc thì người ấy hết bệnh, ai ăn người ấy no, ai tu người ấy chứng… Giáo pháp Như Lai là chiếc bè, là bản đồ, là thuốc giải dukkha, là phương tiện. Ai tự chóng chèo, thắp đuốc, dò đường thì người ấy vượt qua, ai tu người ấy chứng…).

Điều trớ trêu đáng nói là những người có trình độ học vấn cao, có trí tuệ, thiện căn tốt nhưng bởi do lười biếng truy cứu giáo pháp giác ngộ (trạch pháp giác chi), ưa thích nương tựa, nhu nhược dựa dẫm, cuốn theo đám đông mê tín dị đoan mà không chịu tự mình vận dụng trí tuệ sẵn có ra để hiểu đúng giáo pháp (chánh tri kiến & tư duy), dẫn đến dễ dàng bị những hạng người trình độ học vấn thấp, căn trí thấp hèn (không thấy tánh, nói pháp sai dối, luôn hô hào xưng tán hình tướng Phật/Bồ tát, thêu dệt nhân/quả/tội/phước), đồng bóng lòe lẹt, ngụy tôn danh vị…điều khiển, trói buộc, làm cho khuất phục. Tự ngoan ngoãn hạ mình tin theo những sáo từ (thuộc làu Hán từ nói như con sáo), xáo từ (xáo trộn gán ghép những thuật ngữ giác ngộ vào những tán chuyện đời thường, phổ tác thơ/nhạc/sớ tụng bi/hài một cách tùy hứng), xảo ngữ hoang tưởng tôn tạo(tự xưng vị, công đức), bày biện hình thức tướng tượng gây mê hoặc đám đông. Tự nguyện kéo theo làm nô dịch và công cụ tuyên truyền đắc lực cho tà pháp, làm việc thất đức mà mê sảng tự kỷ cho đó là công đức!

Điều này giống như chuyện người giỏi sáo tiếng Anh cứ mỗi lời thốt ra đều “đệm móm” những câu dẫn pha tạp hư cấu chuyện đời thường (cóp nhặt/gán ghép kiến thức túi khôn nhân loại, bí quyết thành công, nghệ thuật xử lý tình huống…) + thanh âm kích hoạt (mỹ từ gieo cảm, nhấn giọng logic, xử lý kỹ thuật âm thanh) + bày biện hình thức cao sang quí phái, uy nghi, tôn tạo danh vị + chiêu trò quảng bá(đám đông tuyên truyền, truyền thông lăng xê, dựa dẫm quyền lực) -> dễ dàng thu hút đám đông cả tin mê tín theo rất nhiều!…

Do đó, chúng ta cần phải luôn cẩn trọng phân biệt đâu là pháp thánh nhân ≠ pháp phàm phu và đâu là giác tri kiến ≠ chúng sanh tri kiến.  Phải luôn không xa rời trọng tâm (Tánh) của vấn đề thiết thực là cần phải làm gì, Hiểu đúng điều gì; Phương pháp cần phải tự mình tự lực thực thi ra làm sao để thật sự chấm dứt Dukkha(sanh, lão, bệnh, tử, thất tình, lục dục,…) tức ta hoàn toàn tự tại trở về với tự tánh(vốn vô tướng).

Và chúng ta – những người tu học chân chính – hãy luôn nhớ rằng An Tâm của pháp Giác Ngộ hoàn toàn khác hẳn với liệu pháp kích hoạt xúc cảm tạm thời(Hỉ, An, Lạc, Bi) + chiêu thức gây mê tâm lý dài hạn như: trấn an, sáo điều nhân/quả để chiêu an nghịch cảnh, khuyến khích hỉ ái để chiêu dụ tự nguyện nô dịch cho tướng tượng, ái lạc giả cảnh thế gian…nhất thời theo hình thức. Hãy chớ bị nhầm lẫn giữa An Thân (đuổi theo Pháp Tướng≠ An Tâm(Vô Tướng).

 

Hãy cảnh tỉnh trước “sáo và xáo ngữ” diễn bi ai đánh thức lòng trắc ẩn, kích hoạt phản xạ xúc cảm của thính chúng khiến rơi lệ như mưa, tạp kỷ bi/hài tâm lý gây cười khoái lạc hư cảnh hữu vi, thiêu dệt Hỉ/An/Lạc/Bi, răn dọa sáo điều nhân/quả, soi bói căn số vận mệnh… những thứ đang tràn lan làm mê hoặc rất nhiều người trầm trồ thán phục?!…và ngoan ngoãn lắng lặng nghe theo, học theo cách ấy ngày càng đông đảo, không hiểu rằng, bởi do lười biếng đọc sách truy cứu, đó chỉ là liệu pháp tâm lý học tạm thời của thế gian (kỷ năng sống, bí quyết/túi khôn/mẹo vặt của người đời) mà bất cứ diễn viên nghệ thuật, hát tuồng hay xướng ngôn viên, hùng biện viên chuyên nghiệp hay chuyên viên tâm lý hay thuật thôi miên nào cũng đều có khả năng làm được cả. Qua nghệ thuật vận dụng kỹ năng âm thanh/văn từ trau chuốc/hình thức biểu cảm trương khuếch…gây kích hoạt xúc cảm trắc ẩn đám đông dây chuyền, hoàn hảo đến đổi khiến cho khán thính giả cảm kích tột độ khóc/cười/lụy/lạc khó thể kềm chế… Năng lực diễn xuất thu hút mãnh liệt khiến cho khán thính giả thần tượng hóa nhân vật nhập vai đến độ nhầm tưởng họ (diễn viên, diễn giả) là những siêu nhân, thánh nhân mà họ vừa diễn xuất, truyền đạt, ca tụng!… Rồi nó lại tiếp tục kích hoạt hiệu ứng đám đông lây nhiễm ám thị được gần gủi thần tượng, lòng luôn cảm xúc trào dâng mỗi khi được nhìn thần tượng, nghe thần tượng nói/hát/ngâm/tán thán sắc tướng huyễn hoặc (hữu/vô hình) [Hội chứng SI nghiện huyễn thanh ảo thức] bất luận đúng sai, thậm chí bị thần tượng chỉ trích, mắng chửi, sai khiển thì họ, những thính chúng si thanh/ái tướng, cũng cảm thấy hạnh phúc, tín mê vô thức đến nỗi có thể sẵn sàng hy sinh để được nô dịch… Nào có ngờ đâu chính “khán giả”, “diễn viên/diễn giả thần tượng” kia ngay trong đời thường họ cũng không giải thoát được thất tình, lục dục do bị nhiễm tưởng thường xuyên (tư lương/hệ phược tướng niệm) từ bởi chính vai diễn của họ?!..đồng nghĩa với si thanh ảo thức/tự kỷ siêu nhân cùng cuốn theo đám đông “ngoan mê đồng si” không lối thoát…

Mặt khác, giáo pháp giác ngộ bị suy hóa dần theo thời cuộc chẳng khác nào các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật hiện thời. Cũng vậy: văn hóa dung tục, nghệ thuật cuồng loạn, kích động, thêu dệt ủy mị bi/hài/khoái lạc tạp kỷ, tôn tạo cá nhân, triển thi những mẹo vặt cóp nhặt từ đời thường…lại có tác dụng lôi kéo đông đảo đám đông hưởng ứng một cách say mê đến độ cuồng tín -> si nghiện, đọa trụy sắc tướng -> vô thức tự kỷ -> lây nhiễm dây chuyền cùng khắp. Đó chính là một trong những ứng quả của thời mạt pháp khó thể mà nhận ra!.. Hãy cùng nhau đối chiếu lời Phật dạy:

        “Dựa theo hình sắc, âm thanh để thấy phật, đó là người hành sai đạo, không bao giờ thấy được Như Lai(không phải 32 tướng mạo hữu vi của thế gian)” – Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba la mật đa.

  “A-nan, lại hành giả kia, thọ ấm chưa tiêu dung làm sanh ra vọng tưởng hư minh về hỉ/an/lạc giả cảnh, tà kiến rằng mình chứng đắc vô ngại/tự tại giải thoát, do mê lầm ngã mạn như thế khiến cho người ấy liền đọa nhập vào địa ngục a tỳ vô gián… Khi thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tưởng ấm chưa tiêu dung làm sanh ra vọng tưởng dung thông, tính viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm thích dạo chơi, cho tư tưởng bay ra, tham cầu đi nhiều nơi. Người ấy thật không biết bị ma gá vào, còn tự nói rằng mình đã được vô thượng bồ-đề. Ma đến nơi người mong cầu lãng du kia, trải tòa ngồi thuyết pháp. Hình người giảng pháp thì không biến đổi, nhưng những người nghe pháp bỗng dưng thấy mình đang ngồi trên những tòa sen báu, toàn thân hóa thành khối vàng tía chói sáng. Mỗi người đang nghe pháp đều cảm thấy như vậy, cho rằng mình đạt được chuyện chưa từng có. Người ấy vốn không biết mình bị ma nhập, còn nói mình chứng vô thượng niết-bàn. Ma liền đến nơi người  mong cầu huyền ứng  kia, trải tòa thuyết pháp. Trong chốc lát, khiến cho thính chúng thấy mình hiện thân thành người già trăm ngàn tuổi. Họ sinh lòng ái nhiễm, không thể rời người ấy. Họ tự thân làm như nô bộc, đem cúng dường cho ma bốn thứ mà không hề mệt mỏi. Thính chúng ở dưới pháp tòa đều tin rằng người ấy là vị thầy trong đời trước của mình, phát khởi lòng riêng yêu mến pháp sư, dính chặt như keo sơn, như được điều chưa từng có. Ma thường nói đến thần thông và tự tại, hoặc khiến cho người khác thấy được cõi Phật. Cõi ấy không thật, chỉ  hiện ra do ma lực để huyễn hoặc người ta. Ma ưa nói đến cõi âm, luôn miệng xưng tán phật lớn/nhỏ/trước/sau/nam/nữ, phật, bồ tát ở nơi xa xôi, ma ưa thích nhàn rỗi, tìm cầu nhàn du đây đó, khuyến dụ tu luyện thần thông, nhập tướng cảnh nhàn hạ vui sướng, tán thán tham dục (Sắc/Danh/Tài/Thụy/Thực), ngay cả không từ bỏ những việc thô tục. Làm những hạnh bất tịnh, cho đó là truyền pháp. A-nan nên biết, trong thời mạt pháp mười thứ ma ấy, hoặc xuất gia tu tập theo giáo pháp của Như Lai, hoặc chúng gá vào thân người, hoặc tự biến thành nhiều dạng khác nhau. Chúng đều tự xưng đã thành bậc chánh biến tri. Các ông nên biết rõ tình trạng này, để khỏi rơi vào vòng luân hồi. Nếu các ông mê lầm không biết, sẽ khiến đọa vào địa ngục a tỳ, vô gián…” [Trích Kinh Thủ Lăng Nghiêm theo bản Hán dịch của cố Hòa thượng Tuyên Hóa, Việt dịch Thích Nhuận Châu – NXB Tôn giáo 2002].

2. Điều vướng mắc thứ hai

Đừng để bị bỏ cuộc lưng chừng bởi do chưa thông rõ những Hán từ đính kèm, đây là điều thật là đáng tiếc đối với những người có tinh thần khoa học đam mê nghiên cứu và thật đáng thương cho những người có đức tin trọn vẹn lại bị sa vào những ma thuyết huyễn nghĩa làm cho mê hoặc, đảo điên như đã nói trên… Một lần nữa chúng ta cần nên nhớ rằng Phật học nguyên thủy là giáo pháp bình dị, thiết thực và đại chúng giúp chúng sanh làm chủ hoàn toàn các xúc cảm hư ảo (bi/hỉ/lạc/an), tiêu trừ sạch vọng tưởng huyễn hoặc (kiên cố/hư minh/dung thông/u ẩn/điên đảo) để được thật sự tự do thoát khỏi Dukkha, đó là chân lý không gì khác hơn.  Bởi thế cho nên với bối cảnh lịch sử cách đây hơn 2500 năm về trước – xin nhấn mạnh và xin nhắc lại – trong điều kiện chữ viết (văn từ) chưa phổ cập, phương tiện thắp sáng thô sơ, mật độ cư dân thưa thớt, địa lý giao thông trắc trở (biên địa) -> thuật ngữ giao tiếp/học thuật chưa thống nhất, trình độ dân trí hạn chế… Do đó, nếu tôn tạo giáo pháp phức tạp, ngôn từ huyễn hoặc, siêu huyền như những quan điểm cực đoan về sau cố làm cho biến tướng dần tính bình dị, thiết thực và đại chúng sẵn có, thì hãy thử hỏi làm sao trong vòng thời gian 49 năm thuyết pháp trong điều kiện nhiều khắc nghiệt (biên địa, đa thổ ngữ, chưa phổ cập chữ viết, đa trình độ, bị Bà la môn và các tôn giáo đương thời chống đối) mà Đức Phật đã dẫn dắt thành công hơn 2400 người chứng thành Thánh Quả A la hán trong đó bao gồm cả những hạng phàm phu thất học, giai cấp hạ tiện, những đối tượng đã từng phạm tội nặng trong xã hội (tướng cướp, kỹ nữ, giang hồ, gian thương)?.

Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau thức tỉnh trở lại và sẵn sàng chịu khó dành ra một ít thời gian để cùng tham khảo một cách đúng đắn những thuật ngữ cơ sở vận dụng trong giáo pháp, thay cho việc hoang phí thời gian một cách vô ích là: công phu học theo sáo ngữ huyễn hoặc, tín điều rập khuôn, lặn lội xa xôi tìm tòi (tâm đuổi theo pháp) tới những nơi biện bày đủ thứ tướng tượng phù phiếm, tôn tạo hình thức mê tín (thức bị hình sắc trói cột), ngụy biện trơn tru cho những kiến thức thấy biết sai trái (tà kiến biện thông) và nô dịch cùng đám đông hoang tưởng suốt nhiều đời kếp… Một lần nữa khuyên bạn đọc không nên vội vàng lướt qua phần căn bản về việc hiểu đúng thuật ngữ Hán Việt và chớ vội tin bất cứ những gì mà mình chưa thông hiểu. Đây chính là điều đã từng trói buộc biết bao thế hệ mê vọng và cuồng tín [Y lý nhập chủng hạnh, bất tùy ư kinh giáo nghĩa là: “Đúng theo lý mà gieo mầm đức hạnh, không để bị trói buộc bởi câu chữ trong kinh giáo” – Tổ Đạt Ma]. Chúng ta hãy từ tốn nhẫn nại và cùng nhau chiêm nghiệm lại dần dần ý nghĩa thiết thực của giáo pháp là cùng đối chiếu(soi chiếu, chiếu kiến) dần bên trong nội thức của chính mình để giúp ta được ngày càng sáng tỏ mọi sự việc bên ngoài (ngoại pháp) mà gieo mầm thiện nghiệp sẽ giúp ta thăng tiến dần đức hạnh… Chính hành động đúng đắn(chánh nghiệp) thông qua sự suy nghiệm(chánh tri kiến, tư duyri kiến, tư duy) vấn đề cốt lõi cùng điều hợp đúng(chánh niệm) thân tâm và đồng thời cũng sẽ chính là năng lực xúc phát(tín lực giác chi) giúp ta khai mở dần năng lượng tâm thức – đối tượng thuộc ngoài phạm trù nhận thức của 5 giác quan hiện hữu của con người – song hành cùng sự vận dụng trí tuệ một cách triệt để(trạch pháp giác chi) tránh bị lôi cuốn theo hình thức cực đoan(Y Trí bất qui Thức) dần lan đến dị đoan cố hữu suốt ngàn năm không lối thoát… Chúng ta hãy luôn tỉnh táo để luôn sáng suốt nhận ra!.

Một vài ví dụ thực tế về việc bị nhiễm độc Si:

{[Chính trị gia (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)] + [Đám đông tuyên truyền (năng lượng hình thức -> kích hoạt pháp thức)]} -> tạo hiệu ứng gây Si binh sĩ, nhân dân. Thí dụ Adoft Hitler là chính trị gia thế kỷ 18 được mệnh danh là sát thủ số 1, dưới tay ông ta là những tướng lĩnh, những khoa học gia rất giỏi và luôn trung thành một cách vô thức (bị điều khiển), luôn sẵn sàng làm theo mệnh lệnh cho dù biết đó là điều sai trái, vô đạo đức…

{[Giáo chủ (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)] + [Đám đông tín đồ (năng lượng hình thức -> kích hoạt pháp thức)]} -> tạo hiệu ứng gây Si tín đồ.Có những giáo phái truyền bá mê tín dị đoan, tình dục, quyền lực, sai lệch đạo lý , dùng tà thuật thuyết giảng ngụy biện thông suốt (Tà Kiến Biện Thông) thu phục rất nhiều tín đồ kể cả những người có trình độ học vấn cao không phân biệt được đúng/sai (chánh/tà), do bị cuốn theo hình thức kích hoạt mê muội – thôi miên tập thể – vô thức đến nông nổi tự làm nô lệ cho giáo chủ, cảm tử vì đạo!… Vào năm 1995 Shoko Asaharalà giáo chủ phái Aum  Nhật Bản có khả năng thu phục đám đông (thôi miên tập thể) trong đó có những tầng lớp trí thức nô dịch tự nguyện,thậm chí bị lôi cuốn cảm tử,  tự tử theo tà giáo nầy…. Năm 1961 Jim Jones sinh trưởng ở Lynn, thuộc miền Nam bang Indiana, Mỹ bởi tài ăn nói lưu loát và tài hùng biện, nhiều người tin tưởng, sùng bái và gọi Jones là “nhà tiên tri”. Lòng tin của họ càng tăng thì ảo tưởng về quyền lực của Jones càng lớn. Y từng hùng hồn tuyên bố với các tín đồ rằng, y chính là vị cứu tinh của những người đang tuyệt vọng, Jones càng ngày càng có những hành động điên rồ khi nói với các tín đồ rằng, một xã hội thoải mái về tình dục sẽ càng giúp con người tới gần với Thượng đế, toàn bộ thành viên đi theo giáo phái nầy bị ép sex tập thể. Thậm chí, họ còn lạm dụng tình dục cả trẻ con, Jones đã gây dựng một giáo phái “biến thái” khiến 1.000 người cuồng tín cùng nhau tự sát!…

{[Chủ tịch Hội đồng quản trị (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)] + [Đám đông nhân sự tuyên truyền chiến lược (năng lượng hình thức -> kích hoạt pháp thức)]} -> tạo hiệu ứng  gây Si khách hàng. Thực tế cho thấy chiêu thức bán hàng đa cấp gây phá sản rất nhiều người nhẹ dạ, tạo hiệu ứng lan truyền nối đuôi (hiệu ứng đô mi nô) đầu cơ ảo….

{[Chủ tịch hiệp hội giải trí (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)} -> tạo hiệu ứng gây Si khán giả. Các cổ động viên cuồng si kích hoạt văn hóa đen (bạo lực, trụy lạc, sex), tôn thờ thần tượng, sống chết theo thần tượng…

Cách để hóa giải và ngăn chặn được bệnh Si -> đó là chúng ta cần phải thường xuyên tư duy một cách đúng đắn (Chánh Tư Duy) để có được nhận thức đúng đắn (Chánh Tri Kiến) tránh để bị cuốn theo tà kiến (kiến thức sai), tà pháp (giáo pháp sai), tà kiến biện thông (ngụy biện kiến thức sai). Tà kiến biện thông là thứ độc dược vô cùng nguy hiểm, người có năng lực hùng biện + đám đông kích hoạt sẽ tạo nên hiệu ứng gây mê cộng đồng rất mạnh. Cụ thể trong giới ca sĩ, kịch sĩ sau khi được lăng xê, đồn thổi (đám đông kích hoạt) nổi tiếng cho dù hát sai, diễn sai, phong cách nhố nhăng, phát biểu linh tinh…đám đông vẫn cho là hay, là đúng! -> sản sinh ra thế hệ âm nhạc, nghệ thuật biến tướng… Tương tự giới tu sĩ, giáo sĩ cũng vậy, sau khi được lăng xê, đồn thổi (đám đông kích hoạt) nổi tiếng cho dù nói sai, chế tác giáo pháp dị biệt, bày biện tướng tượng linh tinh… thậm tệ đến mức nói sai, hành sai những điều rất là cơ bản từ giáo pháp chánh tông – đối với người sáng suốt thì thấy quá rõ ràng – nhưng người  mê cùng ám thị đám đông vẫn cho là hay, là đúng! -> sản sinh ra thế hệ tôn giáo biến tướng… Và chúng ta chắc cũng từng xem qua báo chí viết về một số hiện tượng cuồng si thật là buồn cười ùn ùn kéo nhau lễ hội hối lộ, vái lạy trường kỳ những tướng tượng phong vị… Thậm chí vái lại ụ mối, ba ba, rắn, lươn chỉ vì tin đồn nhảm!…kéo nhau bỏ tiền ăn uống để được chửi, mắng (bún chửi, cháu mắng)!… Do đó, để tránh bị lôi cuốn vào những vòng xoáy suy hóa cực đoan nầy -> dị đoan thủ kiến – phân biệt đâu là Chánh/Tà – thì chúng ta hãy luôn luôn ghi nhớ rằng:

Chánh Pháp mang 3 đặc điểm: 1. Không tôn tạo hình thức; 2. Không giáo điều tuân thủ, khuyến khích mọi người tư duy đúng đắn; 3. Luôn mang đến lợi ích thiết thực (≠ lợi ích chiêu dụ tham gia) cho cộng đồng đó là trí sáng + tâm an + thể cân bằng hài hòa.

Tà Pháp mang “3 độc điểm”: 1. Luôn tôn tạo danh vị, khuyến khích phát triển hình thức, xưng tán tướng tượng; 2. Luôn giáo điều tuân thủ rập khuôn, lập lờ sự thật, hù dọa nhân quả; 3. Mang đến cho cộng đồng: sự mê mờ, quẫn trí, tâm vọng động, bất an (lo sợ phạm thượng, bị trừng phạt…), nô lệ hình tướng suốt nhiều đời kiếp…

Để giúp giải độc cho những người đã bị trúng độc Si, thì thuốc giải hữu hiệu và thiết thực nhất đó chính là hãy luôn kết nối đoàn thể Chân-Thiện-Mỹ để cùng nhau tu học đúng chánh pháp thì mới đủ công năng giúp mình cởi trói được vòng kiền vô hình nầy mà thôi, bởi vì trong lúc si mê ta sẽ nhìn trắng hóa ra đen và nhìn đen hóa trắng tựa như loạn màu vậy, nhìn thiện tri thức bị méo mó, nhìn tà tri thức tưởng là minh sư (trích Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Thiếu Thất Lục Môn) tự nguyện bị trói buộc, nô dịch “tưởng minh sư, tướng xưng vị” cho dù bị sai khiến, tước đoạt tự do tiến hóa, làm đối tượng diễn tuồng tà pháp cũng cười (Si cuồng cầu đạo)?!..tựa như vui vẻ chen nhau ăn bún chửi, cháu mắng, phở nhăn vậy (Si cuồng cầu thực). Si cuồng cầu đạo “giải thoát” đồng nghĩa với  việc đánh mất: tự do -> tự tin -> tự mình -> tự chủ -> tực lực -> tự tu -> tự tại -> tự tiến hóa => tự tánh thành tựu. Ngược lại tự nguyện trói buộc đến nỗi ngoan mê hạ mình bái lạy, cung thỉnh, hối lộ sắc tướng để được ân sủng, chiếu cố, thọ ký, ban bố hồng ân?!… thậm chí si cuồng vái lạy cả ụ đất, súc vật… Bởi thế xưa kia Đức Phật đã từng nhắc nhở các đồng tu về ý nghĩa đoàn thể [gọi chung là Tăng già (Sangha)] luôn cùng gắng kết, hòa hợp với nhau để đồng tiến hóa và đồng tỉnh nhận ra(Giác ngộ) tất cả chúng sanh và vạn pháp (Pháp) đều cùng chung Thể Tánh (Bản Tâm) bình đẳng bất phân biệt do nghiệp lực mà biến thành (PhápTướng), hãy cùng nhau quay trở về (Qui Y, Quần Triệu) với tự tánh (Pháp Tánh) vốn: thanh tịnh, tự đầy đủ, bất phân biệt, sanh muôn pháp (sanh/diệt, tăng giảm, tịnh/cấu). Giác ngộ ra chân lý này (kiến tánh) để hòa nhập cùng tự tánh(thành tựu chứng đắc) thì sẽ không còn Dukkha(sự trói buộc, giam hãm của vạn pháp làm sanh ra biết bao phiền não, khổ đau đeo bám nhiều đời kiếp). Đó là chân lý mà mọi người cần luôn hằng tâm ghi nhận (bảo lưu) tận tâm khảm để thành tựu giác ngộ (Phật). Tức là 3 điều luôn hằng tâm(Tam Bảođể làm hành trang quay về(Qui Y) với tự tánh, chứ không mang hình thức tôn tạo là ngôi báu (Phật báu, Pháp báu, Tăng báu) hay vật quí giá(Phật bửu, Pháp bửu, Tăng bửu) nầy nọ… -> khiến luôn mãi bị chấp thủ theo hành thức danh sắc -> tức là còn sở hữu tướng sanh/diệt…thì sao gọi là giải thoát?

Cùng một lần nữa điểm lại lời dạy của Đức Phật và Chư Tổ:

         [Này các Kàlàmas, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời đồn hay bởi truyền thống, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời người khác nói, chớ để bị dẫn dắt bởi những gì ghi lại trong Kinh điển, bởi lý luận hay suy diễn, bởi xét đoán bề ngoài, bởi tán thành một lý thuyết nào đó, bởi lòng tôn trọng “vị Sa môn này là Thầy ta”. Mà này các Kàlàmas, khi các vị tự mình biết rõ: “Những pháp này là bất thiện, những pháp này đáng bị khiển trách và bất lợi”. Lúc ấy các vị hãy từ bỏ chúng… “Và này các Kàlàmas, khi nào các vị tự mình biết rõ: “Những pháp này là thiện, những pháp này là không lỗi và có lợi”, lúc ấy các vị hãy tiếp nhận và an trú trong pháp đó”].

[“Trước, Sau như một, điều duy nhất mà Như Lai chỉ lý giải và nêu ra, đó chính là chân lý về “Khổ và sự giải thoát khỏi Khổ”. Cũng như nước đại dương chỉ có một vị là mặn, học thuyết của Như Lai chỉ có một vị là giải thoát“].

[“Hãy tự làm hòn đảo cho chính mình, hãy lấy chính mình làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác, hãy lấy Phật pháp làm hòn đảo, không ai khác có thể làm nơi nương tựa cho mình”].

[”Hỡi các Tỳ kheo, ngay cả quan niệm giải thoát, minh bạch và rõ ràng như thế, nhưng nếu các ông bám chặt vào đó, nếu các ông quý chuộng nó, nếu các ông cất giữ nó, nếu các ông ràng buộc vào với nó, thì vậy là các ông đã không hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, cốt dung để qua sông chứ không phải để mà ôm giữ lấy”].

[“Chẳng phải chúng sanh thỉnh Phật nói Pháp, mà vì Phật thương chúng sanh mà luôn làm bạn không thỉnh”].

[”Thời mạt pháp chúng sanh căn trí thấp hèn điên đảo, thấy pháp hữu vi thì đắm chắp tin mê, nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẫn xa rời…không thấy Tánh mà cố nói mười hai bộ kinh, thảy đều là ma nói. Thầy là vua ma và Trò là dân ma… – Lược trích lời dạy của Tổ Bồ đề đạt ma trong kinh Thiếu thất lục môn].

[”Khi mê Phật độ Chúng Sanh, lúc ngộ ra chúng sanh độ Phật. Đó là bình đẳng là  bởi vì Phật cũng từ địa vị chúng sanh mà thành, cũng từng ngụ trong tam độc mà ra, cũng từng phiền não mà tu thành quả bồ đề, thánh nhân cũng từ phàm phu mê muội mà ngộ thành không gì khác hơn…Chớ mê muội tìm Phật ngoài Tâm…Thuộc làu, tụng khéo mười hai bộ kinh mà không thấy tánh quyết không thể nào thoát nghiệp, nói pháp như mưa tuôn thảy đều là ma nói, Thầy là vua ma, Trò là dân ma…  – Lược trích lời dạy của tô Bồ đề đạt ma trong kinh Thiếu thất lục môn].

Tóm lại: Hằng ngày chính trong đời sống hiện tại nầy, đó là mỗi chúng ta hãy luôn gắng giữ gìn sao cho hệ tâm thức lúc nào cũng được cân bằng, hài hòa và đồng hạn chế dần Tam độc(Tham–Sân-Si) gây ảnh hưởng đến nhân cách, đời sống, tư duy tiến hóa của ta và vạn vật xung quanh.

Hiểu đúng và thực hành đúng giáo pháp giác ngộ nguyên thủy (Phật học nguyên thủy), đó chính là con đường giải thoát thật sự.