“Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do sự hiểu biết nông cạn của mình nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ?

“Chỉ tham những điều lành nhỏ nhoi trước mắt, nào biết được nỗi khổ lớn mai sau? Tu học như thế chỉ tự mình nhọc công phí sức, bỏ chánh theo tà, ai bảo là được phước?” – Bồ Đề Đạt Ma Sư Tổ

Thiếu Thất Lục Môn Yếu Chỉ là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật Học, ghi chép lời giảng dạy của Đạt Ma Sư Tổ. Sau đây PHNT sẽ trích dẫn những nội dung cần lưu ý trong thời Mạt Pháp ngày nay, được dịch sang tiếng Việt và biên tập liễu nghĩa.

Điều này sẽ giúp độc giả Việt dễ nắm bắt, không bị sa lầy vào Hán từ, vào những lý giải rắc rối, huyễn hoặc về bộ kinh này.

THIẾU THẤT LỤC MÔN YẾU CHỈ

Đệ Nhị Môn Phá Tướng Luận

(Luận về việc dẹp bỏ những cái hình tướng bên ngoài để trở về bản tâm)

Giảng luận: Bồ Đề Đạt Ma

Dịch giả: Nguyễn Minh Tiến

Biên tập: Phathocnguyenthuy.com

Phần 2: Luận về Xây Chùa, Đúc Tượng, Lễ Lạy

Trong ngôn ngữ Tây quốc (Ấn Độ) Già-Lam (स्तूप, stūpa, hay chùa tháp) có nghĩa là muốn chỉ nơi thanh tịnh. Nếu trừ dứt ba độc, sáu căn thường trong sạch, thân tâm vắng lặng an nhiên, trong ngoài đều thanh tịnh, như vậy gọi là tạo sửa chùa tháp.

Như nói đi quanh tháp để tỏ lòng cung kính, thì tháp đó tức là chỉ cho thân. Cho nên cần phải tu hạnh tỉnh giác, thường quán xét thân tâm, niệm niệm không dừng nghỉ. Như thế gọi là đi quanh tháp tỏ lòng cung kính. Người đời nay không hiểu được ý nghĩa đó, trong tâm chẳng tu tỉnh giác, chỉ hướng cầu bên ngoài, dùng cái thân vật chất ngăn ngại để đi quanh nhiễu tháp thế gian, cho nên nhọc nhằn suốt ngày đêm mà tự tánh chân thật chẳng được chút ích lợi gì.

Chỉ xét kỹ theo đó thì thấy ngay là không hợp lý. Còn nói việc ngày đêm sáu thời đi quanh cung kính (1), ấy là trong sáu căn lúc nào cũng làm theo pháp Phật, thường tu các hạnh tỉnh giác, điều phục sáu căn không lúc nào buông thả. Như thế gọi là sáu thời đi quanh cung kính.

*

(1) Nguyên tác dùng hai chữ hành đạo (行道), xưa nay vẫn thường bị hiểu sai theo nghĩa là “thực hành đạo lý“. Thực ra, hành đạo ở đây mang nghĩa là “đi trên đường”, và ý được dùng liên quan đến một tập quán của người Ấn Độ vào thời đức Phật, đó là để tỏ lòng cung kính đối với một người hay một đối tượng thờ kính, người ta thường đi quanh người hay đối tượng ấy nhiều vòng theo chiều từ trái sang phải. Cách đi để tỏ lòng cung kính như thế cũng gọi là “đi nhiễu”, như trong cụm từ “nhiễu tháp”.

Nói đúc vẽ hình tượng là các chư tổ đời sau muốn chỉ phương tiện hướng cầu con đường giác ngộ cho hết thảy chúng sanh. Để chúng sanh soi theo đó để mà tu hạnh giác ngộ, phản ảnh bởi pháp tướng qua dung mạo toát lên tánh chân thật, giúp diệu hóa các tướng, đâu phải là việc đúc tượng, vẽ ảnh bằng những thứ như vàng, đồng?

Cho nên người cầu đạo giải thoát cần lấy thân làm lò đốt, lấy pháp làm lửa nóng, lấy trí huệ làm thợ khéo, lấy ba nhóm giới thanh tịnh cùng với sáu pháp ba-la-mật làm khuôn đúc để mà đúc luyện (tôi luyện) Phật tánh chân như trong tự thân, nhập thành hết thảy mọi khuôn phép giới luật. Làm theo đúng lời Phật dạy, không hề sai sót, tự nhiên thành tựu được tướng chân thật. Đó là sắc thân rốt ráo vi diệu thường còn, chẳng phải là pháp hữu vi hoại nát. Nếu người cầu đạo không hiểu được ý nghĩa của việc đúc vẽ hình tượng như vậy, thì lý do gì để nói là có được công đức?

Lại nói về việc lễ lạy, cần phải hiểu và làm theo đúng chánh pháp, đó là trong tâm phải luôn sáng rõ, các sự bên ngoài phải biết tùy hoàn cảnh mà thay đổi thích hợp. Hiểu được ý nghĩa như thế mới gọi là theo đúng chánh pháp. Lễ tức là cung kính, lạy tức là làm cho khuất phục. Đó có nghĩa là cung kính đối với chân tánh, khuất phục được sự ngu si tăm tối, như thế mới gọi là lễ lạy.

Nếu như có thể hoàn toàn dứt được tánh ác, thường luôn gìn giữ niệm lành, thì dù cho chẳng dựa vào tướng tượng, thì vẫn thật đúng là Lễ Lạy. Tướng Lễ Lạy ấy là pháp tướng. Các Tổ sau này vì muốn cho người thế tục tỏ lòng khiêm hạ nên cũng dùng việc lễ bái tạm làm phương tiện. Bên ngoài rõ biết, bên trong sáng tỏ, tánh và tướng cùng tương hợp với nhau. Còn không làm theo đúng pháp như thế mà chỉ mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả cho tham lam, si mê trỗi dậy, thường làm các nghiệp ác, thì chỉ nhọc nhằn thân xác vô ích, giả tạo vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục, chẳng thể thoát khỏi sự luân hồi, làm sao lại cho đó là thành tựu công đức?

Sở dĩ kim nhân vô năng giải ngộ, thiết kiến kim thời thiển thức, duy tri sự tướng vi công, quảng phí tài bảo, đa thương thuỷ lục, vọng doanh tượng tháp. Hư dịch nhân phu, tích mộc điệp nê, đồ thanh họa duyên. Khuynh tâm tận lực, tổn kỷ mê tha, vị giải tàm quý, hà tằng giác ngộ? Kiến hữu vi tắc cần cần ái trước, thuyết vô vi tắc ngột ngột như mê. Thả tham hiện thế chi tiểu từ, khởi giác đương lai chi đại khổ. Thử chi tu học, đồ tự bì lao, bội chánh quy tà, thuỳ ngôn hoạch phước? 

Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do hiểu biết nông cạn nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho đó là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của: đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người. Dốc lòng hết sức thế nhưng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết đó là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ? Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, mê muội. Chỉ tham những lợi ích nhỏ nhoi trước mắt, nào biết được dễ đi vào con đường gặp phải nỗi khổ lớn mai sau? (*) Tu học như thế chỉ tự mình nhọc công phí sức, bỏ chánh theo tà, ai bảo là được phước?

(*) Lợi ích nhỏ nhoi trước mắt tức là những việc thiện nhỏ, dù có quả báo tốt nhưng không giúp gì cho việc giải thoát. Nỗi khổ lớn mai sau là việc vì suy nghĩ nông cạn mà lỡ tiếp tay cho những điều không đúng chánh pháp, cổ xuý hình tướng, phát triển tà pháp, kết cục vòng sinh tử luân hồi triền miên chẳng dứt.

Chỉ cần có thể thâu nhiếp được tâm, soi chiếu bên trong, tỉnh thức rõ biết sáng tỏ bên ngoài, tham sân si vĩnh viễn dứt tuyệt, ngăn giữ sáu căn chẳng để cho ngoại trần quấy nhiễu, thì tự nhiên vô số công đức thảy đều trang nghiêm, vô số pháp môn thảy đều thành tựu, vượt phàm chứng thánh thấy ngay trước mắt, ngộ đạo trong giây lát, đợi chi đến lúc bạc đầu?

Tham gia bình luận

2 bình luận

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: