Công đức và phước đức, sai lầm nguy hiểm khi hiểu sai

Chúng ta cần nên lưu ý tránh bị nhầm lẫn giữa Phước đức và Công đức, thậm chí mê lầm đến độ lạm phát từ những việc nhỏ nhặt, linh tinh như: góp tiền, cúng dường xây dựng, hối lộ tâm linh, cầu vọng, van lụy, nô dịch, xưng tán tướng tượng, tuyên truyền tà pháp… mà đen những điều đó tà kiến biện thông hô hào là công đức, công quả này nọ, nhầm lẫn cơ bản công sức việc thế gian.

Như lời Tổ Đạt-ma: “Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do sự hiểu biết nông cạn của mình nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ? Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, mê muội, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, lập lờ.”

Tóm tắt phân biệt công đức và phước đức

Phước đức: tương đương với thiện nghiệp. Trong thiện nghiệp thì từ thiện chỉ là một phần rất nhỏ, mà thiện nghiệp có 10 điều nằm ở cả 3 khu vực là: Thân (cứu sanh, thiện thí, không tà dâm), Khẩu (, nói lời chân thật, nói lời ngắn gọn, nói lời lịch sự, nói lời hòa đồng), Ý (ý không tham, ý không sân, ý không si)

Phước đức là những việc làm bên ngoài (từ thiện người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi, người nghèo khổ), giúp đỡ cộng đồng (kiến thức đúng, phương tiện sống, phương tiện học tập, tu tập, cúng dường nơi tụ tập), bảo vệ môi sinh, nhằm trợ duyên giúp giảm thiểu quả báo của bản thân, tránh bớt những oán nghiệp thế gian chứ hoàn toàn không giúp đắc đạo.

Công đức: là do ta tự soi chiếu bên trong mình, tự soi chiếu chỉnh sửa lại hành thức bên trong mình, công phu tu thành phẩm hạnh để dần trở về với ĐẠO. Tự tu thân là công, tự tu tâm là đức.

Công đức không tạo được bằng:

  • Những việc làm theo hình tướng như đắp tượng, xây tháp, đúc chuông
  • Xây chùa, bố thí, cúng dường chỉ là tu phước, không thể lấy phước làm công đức được. Xem thêm Luận về Xây Chùa, Đúc Tượng, Lễ Lạy – Thiết Thất Lục Môn Yếu Chỉ
  • Mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả những tham lam, ngu si, giả hiện vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục

Phân biệt được đâu là phước đức, đâu là công đức giúp là điều kiện tiên quyết của người Phật Tử và người giảng Phật Pháp.

Ngoài ra làm thiện tích phước cũng cần phải hiểu cho đúng thì mới có kết quả. Xem thêm: Làm thiện thế nào để thật sự có phước đức

Phân tích chi tiết về công đức và phước đức

Nói về chữ “Đức” tức là nói đến chữ Đạo. Công đức và phước đức là khái niệm không có trong phật học nguyên thủy, và xuất hiện khi Phật Học truyền qua Trung Quốc. Cho nên để hiểu đúng chúng ta cần hiểu thêm về lịch sử có liên quan.

Screen Shot 2017-12-14 at 16.59.18

Chữ Đạo trên xuất phát từ triết lý về đạo giáo cổ xưa của người Trung Quốc do Lão Tử đề xướng vào khoảng TK VI TCN. Sau khi Phật học được truyền bá vào Trung Quốc, được triển khai phối hợp rộng rãi thì khái niệm về Đạo được hiểu theo hai nghĩa:

  • Nghĩa hẹp: là con đường. Cụ thể:
    • Đạo Phật: con đường dẫn đến sự giác ngộ giúp giải thoát luân hồi.
    • Lục đạo: 6 con đường mà chúng sanh trôi nổi trong vòng xoáy luân hồi (Trời, người, A-tu-là, ngạ quỉ, địa ngục, súc sanh)
    • Bát chánh đạo: là tám con đường đúng đắn giúp thoát luân hồi
  • Nghĩa rộng: là hàm tính nguyên thủy của trời, đất, vạn vật hữu hình, vô hình

Cho nên trong “Đắc Đạo” thì nên hiểu chữ “đạo” theo nghĩa rộng, tức là thành tựu công đức (công hạnh) để giúp chuyển hóa hữu vi (cầu, tranh, đoạt, chấp) thành vô vi mà thể nhập vào Đạo. Trong một số tài liệu về phật học được biên dịch từ Trung Quốc, thì khái niệm về Đạo (tĩnh lặng, tịch diệt, dung hợp, viên thông, vô cực) được hiểu tương nghĩa với Niết Bàn (Tĩnh-Tịnh-Không) trong phật học nguyên thủy.

Cũng tương tự như học thuyết giác ngộ nguyên thủy (Phật học nguyên thủy) mà Đức Phật đã thuyết giảng xưa kia (TK VI TCN) đều xoay quanh ý niệm trọng tâm “Khổ và Diệt Khổ”. Và luôn nhớ rằng Phật học nguyên thủy hoàn toàn không phải là tôn giáo hay triết học trừu tượng hay tâm lý học(nhằm trấn an, kích hoạt an/vui/khỏe/nhàn/lạc…) hay triết lý dưỡng sinh(tô điểm sắc thân tươi nhuận, trường thọ) hay tu luyện công phu/pháp thuật hay nghệ thuật sống (khôn khéo, lèo lách trong đời sống để thành công tiền tài/danh vọng/hưởng thụ thanh nhàn)… Nội dung thiết yếu của triết lý Đạo giáo nguyên thủy cũng vậy, hoàn toàn không phải là tôn giáo giáo hay triết học trừu tượng hay tâm lý học hay triết lý/nghệ thuật sống. Triết lý này đã được trình bày rất rõ ràng trong tài liệu “Đạo Đức Kinh”, chi tiết cụ thể bạn đọc có thể tham khảo thêm.

Tóm lược vài ý chính chứa đựng tính tương đồng giữa của Đạo so với giáo pháp giác ngộ – điều đã được Tổ Đạt ma vận dụng và triển khai thành công trong việc truyền giáo sang Trung Quốc vào khoảng cuối TK V (xem bản kinh “Thiếu Thất Lục Môn”), ngài đã khéo léo giảng giải sao cho phù hợp với nhận thức truyền thống của tín chúng bản địa vào thời bấy giờ giúp họ có thể dễ dàng đón nhận (khế cơ) giáo pháp mới – dung hòa phật học và lão giáo – một cách chuẩn xác.

        Trở lại nội dung đối chiếu tương đồng giữa Phật học và Đạo giáo, điều mà chúng ta cần nên lưu ý tránh bị hiểu nhầm tính tương đồng về một vài ý niệm căn bản giữa Đạo giáo và Phật học, điều này không có nghĩa qui đồng cho rằng Đạo giáo thay thế học thuyết Giác ngộ.

       Những ý niệm tương đồng giữa Đạo giáo nguyên thủy và Giáo pháp Giác ngộ nguyên thủy như sau:

                2-1. Đạo là thường hằng, bất biến, là nguồn gốc của vạn vật -> tương đồng với Niết Bàn là bản thể thường hằng của chư pháp.

                2-2. Đạo thường (luôn luôn, như như) Vô Vi(không cầu vọng, không tranh giành, không chiếm đoạt và không chấp giữ), không giống như những gì mà chúng ta gọi là(Danh) hay thấy biết bằng 5 giác quan bình thường(Đạo khả đạo phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh) và không mang hình tướng, không phải là tên gọi của thế gian (Vô, danh thiên địa chi thủy). Tức là Đạo luôn tĩnh lặng, tịch diệt và Không (Vô Danh, Vô Vi, Vô Tướng). Tương đồng với 3 hàm tính: Tĩnh-Tịnh-Không của Niết Bàn. Vì vậy, những khái niệm như là: đắc đạo cũng được hiểu tương đồng với nhập niết bàn và pháp vô vi tương đồng với pháp tánh(vô duyên khởi, vô tướng) chính là ở chỗ này.

               2-3. Đức là năng lực để chuyển luân vạn vật quay về hoặc cách xa Đạo. Công đức giúp quay về với Đạo, đạo đức giúp tiếp cận với Đạo, phước đức giúp không cách xa Đạo, thất đức làm rời xa Đạo Cho nên khái niệm Đức gần tương đồng với khái niệm Nghiệp trong Phật học:   

                  * Công đức tương đồng với Chánh Định Nghiệp, dẫn đến Tuệ tri, Huệ năng.

                  * Đạo đức tương đồng với Chánh Nghiệp.

                  * Phước đức tương đồng với Thiện Nghiệp.

                  * Thất đức hay Ác đức tương đồng với Tà Nghiệp hay Ác Nghiệp.

         Đây cũng là điều mà chúng ta cần nên lưu ý tránh bị nhầm lẫn giữa Phước đức và Công đức, thậm chí mê lầm đến độ lạm phát từ những việc nhỏ nhặt, linh tinh như: góp tiền xây dựng, hối lộ tâm linh, cầu vọng, van lụy, nô dịch, xưng tán tướng tượng, tuyên truyền tà pháp… mà đen những điều đó tà kiến biện thông hô hào là công đức, công quả này nọ, nhầm lẫn cơ bản công sức việc thế gian.

        Nhớ lại tích xưa lúc Tổ Đạt Ma sang Trung Quốc đến tương kiến vua Lương Vũ Đế và vua hỏi: Lâu nay trẫm cho xây chùa, chép kinh, độ tăng rất nhiều không kể xiết, vậy có công đức gì không?.

       Tổ đáp: chẳng phải công đức, đó chỉ là phước đức thế gian tức nhân hữu lậu tạo quả nhỏ trong vòng nhân, thiên(vẫn còn luân hồi  trong các cõi người, trời) như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật, công đức thật sự đó là trí phải được trong sạch hoàn toàn và thể phải được trống không vắng lặng (phải công phu tu luyện công hạnh) hoàn toàn không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng, cúng dường) mà cầu được!…

          Sau này Tổ Huệ Năng nhắc lại: “Kiến Tánh là Công, bình đẳng là Đức”, “Tự tu Thân là Công, tự tu Tánh là Đức”…

           Lưu ý là luôn: tự mình tự tin tự lực tự tu tự thành tự tại.

           Do đó, cũng cần phải phân biệt: Công sức, thứ bỏ ra hành việc thế gian, khác với Công đức, hành công hạnh qua công phu tu luyện chánh trí và đức nhân. Công sức hay phước đức chỉ là nhân đem lại quả là điều tốt lành nhưng vẫn chỉ quanh quẩn ở thế gian.

Còn Công Đức, công hạnh là nhân đem lại quả là nhập đạo, hay đoạt giải thoát. Lưu ý: công phu mà thiếu chánh trí quán sát chánh tâm giúp thành tựu công hạnh vô vi, sẽ là lạc vào ngoại Đạo.

      Tóm lại, không phân biệt phước đức và công đức thì sẽ không phân biệt đâu là chánh, tà. Thì sao mà thấy đường vào Đạo. Căn bản của pháp giác ngộ là luôn vận dụng trí tuệ để thấy được Tánh. Siêng năng ưa thích nương tựa, cầu vọng, tán thán sắc tướng mà biếng lười tư duy là tu mê ngộ, tất sẽ thấy ma.

Không phân biệt giữa Công đức/Phước đức cũng như Công phu/Công sức thì không bao giờ thấy được ĐẠO. Nên nhớ rằng Công đức là do ta tự soi chiếu bên trong mình(tự soi chiếu chỉnh sửa lại hành thức bên trong mình) tu thành phẩm hạnh để dần trở về với ĐẠO, Phước đức là những việc làm bên ngoài (từ thiện người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi, người nghèo khổ), giúp đỡ cộng đồng (kiến thức đúng, phương tiện sống, phương tiện học tập, tu tập), bảo vệ môi sinh, nhằm trợ duyên giúp giảm thiểu quả báo của bản thân, tránh bớt những oán nghiệp thế gian chứ hoàn toàn không giúp đắc đạo. Một lần nữa chúng ta chớ bị lầm lẫn điều cơ bản này.

Cũng cần phân biệt giữa công sức(gắng sức làm những việc thế gian, gắng sức học/giảng dạy) và công phu(chuyên cần tu luyện theo định hướng). Tuy nhiên nếu việc định hướng hữu vi(cầu/tranh/đoạt/chấp) thì tất nhiên công phu ấy chỉ là ngoại Đạo hoặc công sức hành trì tu tập theo tà pháp, nô dịch (hộ pháp) cho tà sư, tuyên truyền cổ vũ tà pháp, dẫn tới gây mê hoặc cho tín chúng, đó sẽ là hành động thất đức (Tà/Ác nghiệp).

Đối chứng lời dạy của Tổ Đạt Ma:

          “Nếu người cầu đạo không hiểu được ý nghĩa của việc đúc vẽ hình tượng (lấy thân làm lò đốt, lấy pháp làm lửa nóng, lấy trí huệ làm thợ khéo, lấy ba nhóm giới thanh tịnh cùng với sáu pháp ba-la-mật làm khuôn đúc để mà đúc luyện) chứ không phải là pháp hữu vi hoại nát, thì do đâu có thể nói là được công đức?… Lại nói về việc lễ lạy (Lễ tức là cung kính đối với chân tánh, lạy tức là khuất phục sự ngu si tăm tối), cần phải theo đúng như chánh pháp. Lý trong tâm phải luôn sáng rõ, sự bên ngoài phải biết tùy hoàn cảnh mà thay đổi thích hợp. Hiểu được ý nghĩa như thế mới gọi là theo đúng như chánh pháp… Bên ngoài rõ biết, bên trong sáng tỏ, tánh và tướng cùng tương hợp với nhau. Nếu không làm theo đúng pháp như thế, chỉ mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả những tham lam, ngu si, thường làm các nghiệp ác, thì ngoài chỉ nhọc nhằn thân xác vô ích, giả hiện vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục, chẳng ra khỏi chốn luân hồi, làm sao lại thành công đức?.  Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do sự hiểu biết nông cạn của mình nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ? Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, mê muội, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, lập lờ. Chỉ tham những điều lành nhỏ nhoi trước mắt, nào biết được nỗi khổ lớn mai sau? Tu học như thế chỉ tự mình nhọc công phí sức, bỏ chánh theo tà, ai bảo là được phước?”…

Xem thêm Luận về Xây Chùa, Đúc Tượng, Lễ Lạy – Thiết Thất Lục Môn Yếu Chỉ

Lời dạy Tổ Huệ Năng:

  “Xây chùa, bố thí, cúng dường chỉ là tu phước, không thể lấy phước làm công đức được. Công đức ở tại Pháp thân, không phải ở phước điền. Tự trong pháp tánh đã có công đức. Kiến tánh là công, bình đẳng là đức. Bên trong thấy Phật tánh, bên ngoài tu hành cung kính. Nếu như khinh tất cả mọi người, không cắt đứt được sự chấp ngã, thì tự mình không thể có công đức được. Nếu như tự tánh mình hư vọng, Pháp thân không còn có đức nữa. Nếu trong niệm niệm liên tục có tu hành phước đức và bình đẳng chơn tâm, thì công đức sẽ không nhỏ và hành vi luôn luôn cung kính. Tự tu thân là công, tự tu tâm là đức. Công đức là do tự tâm mà ra, phước và công đức là khác nhau”.

Hãy cùng nhau thức tỉnh để mà nhận ra chân lý qua lời truyền dạy của Phật và chư Tổ chính quy, nếu không muốn làm dân ma thời mạt pháp.

 

2 thoughts on “Công đức và phước đức, sai lầm nguy hiểm khi hiểu sai

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s