Làm thiện thế nào để thật sự có phước đức

Trong thời kỳ thật giả hỗn độn như ngày nay, việc cân nhắc làm thiện để tích phước sao cho đúng hiệu quả lại càng cần thiết. Đồng thời tránh làm thiện sai (bất chánh thiện thí) dẫn đến uổng phí công sức mà còn hoại phước đức, tạo nghiệp chướng, ác nghiệp dẫn đến nỗi khổ lớn mai sau.

Chúng ta cũng lưu ý thập thiện nghiệp không phải do Đức Phật tự nghĩ ra và bắt buộc mọi người làm, mà đó là quy luật sẵn có của vũ trụ, đã tồn tại dù có hay không có Đức Phật. Người nào làm thuận theo thì sẽ tốt, tiến hóa lên. Còn ngược lại thì tất nhiên sẽ suy hóa.

Cho nên khi làm từ thiện mà thiếu suy xét, không phân biệt được đúng sai, chỉ làm theo phong trào, theo hình thức, theo sự lôi cuốn của đám đông, làm vì tin theo sự kêu gọi của tổ chức hay cá nhân nào đó, thì chính chúng ta sẽ nhận lấy kết quả theo quy luật tự nhiên “gieo nhân nào gặt quả nấy”.

Chánh thiện nghiệp đúng theo Phật Học Nguyên Thủy là bao gồm 10 giọt thiện (thập thiện) chứ không chỉ riêng việc từ thiện giúp đời. Từ thiện chỉ là một phần nhỏ trong thập thiện mà thôi.

Mười nghiệp thiện (giọt thiện) gồm

3 nghiệp thiện của thân:

  • Không sát sanh
  • Không tước đoạt
  • Không tà dâm

4 nghiệp thiện của khẩu:

  • Không nói dối
  • Không nói thêu dệt
  • Không nói hai chiều
  • Không nói lời thô ác

3 nghiệp thiện của ý:

  • Không tham
  • Không sân
  • Không siPicture1.png

Muốn có phước đức thật sự, phải thực hành đủ 10 nghiệp thiện nêu trên, đó là thiện ở thân, thiện ở khẩu, thiện ở ý; Kinh Pháp Cú (đoạn 122) gọi đó là người có trí:

Chớ khinh suất điều thiện, nói “nó không đến mình”

Ngay cả từng giọt nhỏ, nhỏ lâu cũng đầy bình

Do vậy người có trí, tích cóp từng “giọt thiện”

Đến khi thiện đầy mình.

Tu có thể hiểu là việc chúng ta tu chỉnh (chỉnh sửa) dần 3 khu vực thân khẩu ý của mình sao cho ngày càng tinh tấn hơn (tiến thiện).

Bảng nhân quả trong pháp tu thập thiện nghiệp

  NHÂN QUẢ
Giữ Thiện Tiến thiện  

1. THÂN

Không sát sanh, không phá hoại môi trường Cứu sanh, chăm sóc môi trường, con người, cây cỏ Khỏe mạnh, trường thọ
Không tước đoạt, ngay thẳng Giúp đỡ, chánh thiện thí Giàu sang, an ổn
Không tà dâm, quan hệ bất chính, đa dâm Tu tập Tinh – Khí – Thần Xinh đẹp, hạnh phúc

2. KHẨU

Không nói dối gạt, chân thật Nói lời chân thật mang đến lợi ích Uy thế, tiếng tăm
Không nói xảo ngôn thêu dệt Nói đúng sự thật, giúp mọi người hiểu được vấn đề Mọi người kính mến
Không nói hai chiều, ly gián, nịnh hót Nói lời hòa hợp, trung thực thẳng thắng Mọi người kính nể, mang  ơn
Không nói thô tục, ác độc Nói lời lịch sự, cao đẹp Mọi người tôn trọng

3. Ý

Không còn gian tham, bỏn xẻn (tham) Thí xã, rộng rãi Vô lượng phước báu
Không còn nóng nảy thù vặt (sân) Từ tốn, nhẫn nhịn,  nhẫn nại Vô lượng duyên lành
Không còn mê muội, thụ động (si) Học hỏi, trau dồi tri thức, năng động Vô lượng trí tuệ

Do đó, không thể có đời sống thực sự có ý nghĩa chỉ bằng việc làm từ thiện, giúp đỡ người khác (hay còn gọi là hành thiện thí nghiệp).

Và cũng không nên lầm tưởng chỉ cần đi làm từ thiện là làm đời sống tu tập được tiến bộ hoặc cho là đã đủ và có phước đức mà quên thực hành đầy đủ 10 giọt thiện nêu trên. Nếu chưa hành được 10 nghiệp thiện, thì chắc chắn tâm đang hành giọt ác. Đáng sợ nhất là giọt sân và nguy hiểm nhất là giọt si. .

Trong kinh pháp củ đức Phật dạy:

Chớ khinh suất điều ác, nói “nó không đến mình”

Ngay cả từng giọt nhỏ, nhỏ lâu cũng đầy bình,

Đừng như người si dại, tích dần từng giọt ác

Đến khi ác đầy mình. (Kinh Pháp Cú đoạn 121)

Chúng ta cũng phải lưu ý 10 Nghiệp ác, nếu không rất dễ vừa làm thiện vừa làm ác cùng lúc thì kết quả cuối cùng cũng không nhiều, nhiều khi còn đi lùi.

10 nghiệp ác (giọt ác) gồm:

3 nghiệp ác của thân:

  • Sát sanh
  • Tước đoạt
  • Tà dâm

4 nghiệp ác của khẩu:

  • Nói dối
  • Nói thêu dệt
  • Nói hai chiều
  • Nói lời thô ác

3 nghiệp ác (giọt ác) của ý:

  • Tham lam
  • Sân hận
  • Si mê

Cho nên trong Kinh Pháp Cú đức Phật dạy hể biếng nhác làm lành giờ nào thì tâm liền ưa chuyện ác giờ ấy:

“Hãy gấp rút làm lành (tích 10 giọt thiện)

Chế chỉ tâm tội ác

Hãy gấp rút làm điều lành (thiện)

Ngăn tâm làm điều ác

Ai chậm làm việc lành

Ắt tâm ưa việc ác.”

Trích kinh pháp cú 116

Chánh thiện thí có được công đức hay không?

Khi tổ Đạt Ma sang Trung Quốc truyền giáo và tương kiến vua Lương Vũ  Đế. Vua Lương Vũ Đế hỏi tổ Đạt Ma: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?”

Tổ Đạt Ma đáp: “Không có công đức.”

– “Tại sao không công đức”.

– “Bởi vì những việc vua làm là nhân “hữu lậu”, chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.”

Vậy công đức chân thật là gì?

Sư đáp: “Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn.Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.”

trong Kinh TTLMYC Tổ dạy:

“…Lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ?Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, mê muội. Chỉ tham những điều lành nhỏ nhoi trước mắt, nào biết được nỗi khổ lớn mai sau? Tu học như thế chỉ tự mình nhọc công phí sức, bỏ chánh theo tà, ai bảo là được phước?

Lời dạy Tổ Huệ Năng:

“Xây chùa, bố thí, cúng dường chỉ là tu phước, không thể lấy phước làm công đức được. Công đức ở tại Pháp thân, không phải ở phước điền. Tự trong pháp tánh đã có công đức. Kiến tánh là công, bình đẳng là đức. Bên trong thấy Phật tánh, bên ngoài tu hành cung kính. Nếu như khinh tất cả mọi người, không cắt đứt được sự chấp ngã, thì tự mình không thể có công đức được. Nếu như tự tánh mình hư vọng, Pháp thân không còn có đức nữa. Nếu trong niệm niệm liên tục có tu hành phước đức và bình đẳng chơn tâm, thì công đức sẽ không nhỏ và hành vi luôn luôn cung kính. Tự tu thân là công, tự tu tâm là đức. Công đức là do tự tâm mà ra, phước và công đức là khác nhau”.

Phước đức hoàn toàn khác với công đức, không nên lầm lẫn với nhau. Khi tự mình thấy được tự tánh thì đó là công, luôn khiêm cung hòa nhã với mọi người thì đó là đức.

Đọc thêm: Công đức và phước đức, sai lầm nguy hiểm khi hiểu sai

Muốn tự tu thân, tu tâm thì chắc chắn phải rèn luyện đời sống mình, chỉnh sửa mình, tâm địa không nghi, không loạn, không si, bởi thế công đức không phải đơn giản chỉ là những việc cho nhận đời thường.

Đạo Phật ngày nay: lời cảnh tỉnh từ những vị sư chánh trực

       3(42).pngPhật Pháp đến ngày nay càng tệ hại suy vi, cuồn cuộn chẳng biết bao nhiêu là sóng gió. Trước kia Tăng Ni trong toàn quốc còn có tám trăm ngàn người. Năm ngoái chỉ còn có hơn bảy chục ngàn người. Mười người chín kẻ hoàn tục! Đây tức là không có tâm trường viễn, không có tâm kiên cố. Gặp lửa dữ đốt tới thì chân đứng không vững liền. Nếu là đệ tử Phật thứ thiệt thì phải lập chí son sắt, cứng rắn. Trước hết học oai nghi, giữ đúng quy củ, để khỏi sợ người khác phê bình đầu óc mê muội. Rồi dốc lòng tôn kính phụng sự đạo lý và giới luật của Phật; bởi do nhiều kiếp trồng căn lành, nên kiếp này mới đặng vào cửa Phật, vậy thì cần gắng sức cầu đạo trừ bỏ thói hư, chẳng vào chốn danh lợi, chẳng làm tôi mọi cho bậc quyền thế. Trừ bỏ những thói xấu trong tâm mình từng chút từng chút một. Được vậy tức là người đại tu hành, sẽ vào được lý thể. Đó là vì tâm kiên cố trải qua lâu dài chẳng biến; tâm bình thường đối động tĩnh luôn nhất như. “Nho sĩ là tội nhân của Khổng Tử; Tăng sĩ là tội nhân của Phật.” Ngài còn nhấn mạnh: “Kẻ hủy diệt Phật Pháp chính là giáo đồ của Phật Giáo, chứ không phải các giáo phái khác. Kẻ làm cho Lục Quốc diệt vong chính là Lục Quốc, chứ không phải nhà Tần. Kẻ làm suy sụp nhà Tần chính là nhà Tần, chứ không phải Lục Quốc vậy”

 3(43).pngGiáo lý của Đức Phật đích thật là một phép tu tập giúp tẩy sạch những thứ “ô nhiễm” thường mượn các cửa ngõ của thân xác, ngôn từ và tư duy để thâm nhập vào tâm trí và làm cho nó bị u mê. Phép tu tập đó không cần đến kinh điển hay các tập sách chỉ dẫn, cũng không cần đến nghi lễ hay bất cứ thứ gì từ bên ngoài, kể cả thần thánh và các vị thiên nhân trên trời, mà nhất thiết chỉ cần trực tiếp tập trung và canh chừng những gì phát sinh từ thân xác, ngôn từ và tư duy…Phải ý thức được là sự tu tập Phật Giáo tự nó cũng có thể biến thành dị đoan nếu nó kết hợp với những thứ hiểu biết lệch lạc và với sự ước mong đạt được một sức mạnh thần bí. Thật vậy những thứ lặt vặt như thế vẫn thường thu hút được phần đông chúng ta, khiến cho chúng ta cũng cứ muốn thử xem ra sao, thí dụ như những bài hát mang tính cách nghi lễ, các hành động (có tính cách bày vẽ và ngoạn mục) để được mọi người khen ngợi, và vô số các thứ khác nữa đại loại như thế… Nếu nghi lễ được tổ chức bằng cách dâng cơm và bánh ngọt trước ảnh tượng của Đức Phật và nghĩ rằng “hương linh” của Đức Phật sẽ thụ hưởng những thứ ấy, thì chắc chắn một trăm phần trăm là tác động mang lại sẽ trái ngược hẳn với những gì mà mình mong đợi (thay vì phải phát huy trí tuệ thì đấy chỉ là cách làm gia tăng thêm tình trạng vô minh, mê tín và dị đoan của mình). Thái độ đó đi ngược lại với mục tiêu đích thực, thế nhưng lại rất phổ biến trong các giới Phật Giáo, thật quả đấy là những gì hết sức là phi lý. Chính vì thế mà sự tu tập nguyên thủy thật đẹp và đúng đắn đã bị một số người vì vô minh đã làm cho nó bị ô nhiễm. Tóm lại thì đấy là những gì gọi là dị đoan.

Screen Shot 2017-12-14 at 17.11.09.jpgChúng ta đều sanh nhằm thời Mạt Pháp. Gọi là “mạt pháp” tức là giáo pháp đã đến thời kì cuối, sắp đến lúc diệt vong, và cũng là lúc mà “Ma mạnh Pháp yếu”, “Tà thắng Chánh suy”. Cho nên tà thuyết đầy rẫy. Những tà thuyết này thoạt nghe thì cảm thấy rất hữu lý, nhưng nếu làm theo thì có thể dẫn đến cảnh vong quốc diệt chủng, khiến nhân loại bị tận diệt.

Hôm nay tôi nêu vấn đề này ra, mặc cho bè lũ yêu ma quỷ quái không thích nghe, tôi vẫn cứ nói. Đây là thời kỳ của đại tai kiếp, đại nguy hiểm, “Tạo chùa không bằng tạo người, tạo người không bằng tạo Phật. Tôi muốn làm một người thợ đúc “tượng”. Tôi muốn đúc nên những vị phật sống, những vị Bồ Tát sống, những vị tổ sư sống. Tôi còn muốn làm cho những chúng sanh trên thế giới này đều biến thành những vị Phật sống, những vị Bồ Tát sống, những vị Tổ sư sống luôn nữa! Rõ ràng đó không phải là những ngôi chùa lớn, mà là miếu thờ Thổ Địa, miếu thờ Thành Hoàng, miếu thờ của gia tộc. Khi những người ở chùa nhỏ dọn sang chùa lớn, thì tất cả có thể cùng nhau tu hành, như thế mới là nếp sinh hoạt của một đại tùng lâm. Vì sao ở chùa nhỏ thì không được tốt? Bởi vì ở đó thiếu sự gò bó, câu thúc. Không cần phải quán tự tại mà là: ăn tự tại, mặc tự tại, đi đứng tự tại, nên rất dễ quên đi việc tu đạo. Hàng ngày chỉ biết phan duyên, mà tập khí này là vết thương chí mạng làm băng hoại Phật Giáo. Tôi hy vọng Phật Giáo ghi lòng tạc dạ những lời này và đừng tiếp tục “bịt tai ăn cắp chuông” dối gạt nhân loại nữa. Hiện nay các dấu hiệu hỗn loạn trong Phật Giáo thời mạt pháp nay đã vô cùng nghiêm trọng, có thể nói là đến lúc phải báo động rồi. Thế nhưng chẳng có người nào dám đứng ra lên tiếng kêu gọi, mà ai nấy chỉ trố mắt ngồi nhìn cảnh Phật Giáo đang đi dần về cảnh diệt vong. Cách ba bước là có một tịnh xá, đi năm bước là gặp một ngôi chùa lớn, thật xót xa thay! Mọi người đều ra sức tổ chức Pháp Hội, siêu độ vong linh, làm lễ quán đảnh, truyền Pháp, xây chùa…mà chẳng hay biết gì về hoằng dương giáo nghĩa (hiểu và nhân rộng ý nghĩa những lời Phật dạy), hướng dẫn chúng sanh làm thế nào để chấm dứt sanh tử!

Mọi người cần phải luôn nhớ rằng: “Giáo nghĩa căn bản của Đức Phật là giáo dục, làm cho tất cả chúng ta đều có trí tuệ, có Trạch Pháp Nhãn, biết nhân biết quả, đoạn ác tu thiện; chứ chẳng phải một mực chú trọng về việc xây dựng chùa dựng miếu, thờ cúng phức tạp, bám víu muôn hình tướng, tổ chức nhiều Pháp hội!…” Người xuất gia sống một mình một chùa, xưng vương xưng bá, làm vua một cõi. Người tại gia do thiếu “Trạch Pháp Nhãn” nên đi theo hộ pháp cho họ, hộ tới hộ lui, hộ luôn xuống địa ngục! Vào thời kỳ Chánh Pháp, Tất cả đại chúng đều sống chung trong một đại tùng lâm của chùa, và cùng nhau dụng công tu Đạo. Song, vào thời kỳ Mạt Pháp, người ta lại không thích nếp sống của đại tùng lâm nữa. Mỗi người một chùa riêng – ông theo cách của ông, tôi theo cách của tôi, khiến cho người tại gia trở nên hoang mang, bối rối. Họ thấy ông sư này tướng mạo trông đẹp đẽ bèn hộ pháp cho ông ta, xây chùa riêng cho ông ta trụ trì. Rồi sau đó lại thấy một ông sư khác cũng không tệ lắm, họ lại xây cho vị đó một ngôi chùa nữa. Hộ tới hộ lui, rốt cuộc làm cho những người xuất gia sanh lòng tham danh hám lợi đến nỗi phải hoàn tục!

Screen Shot 2017-12-15 at 11.36.10.jpgThưa chư thiện hữu tri thức, cùng toàn thể Tăng Ni trẻ thân mến! Các Phật Tử gần xa thân mến!…Nguồn giáo lý giác ngộ nguyên thủy hay đạo Phật theo dòng chảy của thời gian nổi trôi lăn lóc trên biển đời tính đến nay đã 25 thế kỷ có hơn. Với dòng chảy thời gian ấy, với biển đời không gian vô hạn ấy, với không biết bao nhiêu căn cơ trình độ tri kiến tri thức và chủng tánh của loài người, ai cũng có quyền tìm hiểu nhận thức tin tưởng và bằng lòng theo sở kiến của mình. Do vậy, là người trí người ta biết chắc rằng nguồn chân lý vô thượng thậm thâm của đạo Phật không còn thuần túy nữa mà đã nhuộm quá nhiều màu sắc: Chính trị, thế lực vua chúa – tôn giáo, thế lực của tín ngưỡng tự do – ngoại đạo tà kiến, thế lực của huyễn hoặc hoang đường. Và tận cùng của sự bất hạnh rủi ro là nó lọt vào thế lực của kim tiền, vào tay và đầu óc của thành phần thông minh giỏi khai thác, họ mượn đạo Phật và giáo lý đạo Phật làm hàng hóa để kinh doanh sự nghiệp…

Lễ bái khấn khứa, van xin, thiết tha khấn nguyện mong sự giúp đỡ nào đó của tha lực bâng quơ, người đệ tử Phật là không để mình rơi vào cái quỹ đạo tà kiến của tưởng đượng hoang đường (đó)” Người ta dạy rằng: niệm kêu danh hiệu Phật 10, 15, 20 thấy chết có thể chuyển từ lạnh sang nóng, từ cứng đổi thành mềm…Lúc bấy giờ, gọi đó là vãng sanh…Người ta dạy rằng: nếu thân nhân ai đó qua đời, bổn phận người sống phải thỉnh mời hội họp lại đông đảo, cùng nhau tụng kinh A-di-đà, kêu gọi danh hiệu Phật A-di-đà…tiếp dẫn vong linh vãng sanh Tịnh Độ…Lối hướng dẫn, cách tổ chức tu hành như thế, ra ngoài đường lối Văn Tư Tu của minh sư (như trên) chắc chắn không đem lại kết quả thực tiễn nào. Những lối tu hành đó tự trình diễn, tự tố cáo sự sai lạc của tổ chức mình trước bàn dân thiên hạ, trước nhãn quan của người trí.

Về mặt nghi lễ cầu nguyện, cầu an cho gia chủ hay gia đình gia chủ tai qua nạn khỏi, cầu siêu cho những linh hồn tội lỗi sớm được siêu sanh miền cực lạc, mai táng người chết lúc không giờ, linh đình giỗ chạp cúng thất cúng cửu, đốt vàng mả tiền giấy hỗ trợ kinh tế cho vong linh, cúng sao giải hạn để được bình an mạnh giỏi đầu năm đến cuối năm, có bệnh không cần uống thuốc, chỉ cần khấn nguyện thần linh cứu giúp;…đại loại những hình thức nghi lễ cúng kính, cầu nguyện, van xin, khấn vái… như vậy, với nhãn quan của người đệ tử Phật, của những bậc minh sư chân chánh sẽ xem đó thuộc về việc làm mê tín, và nếu những ai tin tưởng những việc làm ấy đều gọi là thành phần mê tín. Đối với đạo Phật, người học đạo, hành đạo dù đã ở trong hình thức xuất gia mà việc làm, đức tin, sự hiểu biết của họ hướng ngoại tìm cầu, tin tưởng ở những ông, những đấng vô hình phò trì giúp đỡ…Đạo Phật xem đó là những người thuộc thành phần ngoại Đạo. Thần hồn, chánh hồn, hương hồn hay linh hồn là sản phẩm được sản sanh từ vọng chấp, tà kiến của hàng ngoại đạo. Nó xuất phát từ ý thức vô minh Ngã Chấp căn bản ban đầu…

Trong các kinh mà Đại Thừa Phật Giáo và Phật Giáo Việt Nam ta đang sử dụng học tu, nó nằm trong các tạng kinh Đại Thừa Phật Giáo của Trung Quốc, có thể nói danh nghĩa tuy hai mà thật sự gần như là một. Đó là điểm mà riêng tôi rất ưu tư, rất quan tâm lo lắng cho việc truyền đạo, học đạo và hành đạo của tương lại Phật Giáo Việt Nam chúng ta…Do không tuệ giác, thiên định lực Văn Tư Tu người ta đã phiên dịch, chú thích, sáng tác, ngụy tạo ra những nguồn tư tưởng, những pháp môn tu tập sai lạc len lõi trong Tam Tạng Thánh Giáo của Phật, lâu ngày mặc nhiên được người ta tưởng đó là lời dạy của Đức Phật. Những sự sai lầm lệch lạc của nền giáo lý Phật, những pháp môn tu tập theo tà kiến ngoại lai trong đạo Phật hiện nay nhiều không biết bao nhiêu mà kể…Chúng ta nên cảnh giác và sử dụng lý trí khi nghe chánh pháp, học chánh pháp, để tìm hiểu và nhận thức chánh pháp. Chúng ta hãy giữ vững đạo tâm, đạo lực, đạo hạnh của mình, đừng để lệch lối Bồ Đề. Những thiện hữu tri thức của tôi! Những tăng ni trẻ thân mến! Những Phật Tử gần xa! Chúng ta hãy quay về với Giới – Định – Tuệ, với Văn Tư Tu mà Đức Phật đã nhắc nhở! Tôi viết để vực dậy và đánh thức mình mấy mươi năm tu tập mơ hồ như sống trong trường mộng. Tôi hi vọng Phật Giáo Việt Nam ta làm thế nào tạo cho mình một đạo tràng đoàn kết với tinh thần phục vụ chánh pháp cao độ. Chúng ta ngồi lại bàn bạc, hội thảo một cách chân tình, cùng nhau rà soát, kiểm điểm, phân tích những kinh điển có ẩn tàng giáo lý bất hợp lý mà từ trước đến nay chưa có cơ hội đặt ra. Thiết nghĩ Phật Giáo chúng ta cũng nên tạo “sân chơi” để cùng nhau trao đổi nhắc nhở để bồi dưỡng trí tuệ cho nhau tiến lên tầm cao mới, có được không?

Nước chảy đá cũng phải mòn, nền giáo lý của đạo Phật chịu đựng với bao thế lực ấy, với bao phong ba bão táp nghiệt ngã của thời gian ấy, nay hơn 25 thế kỷ nguồn giáo lý ấy bị pha loãng với bao nhiêu mùi vị sông nước của thời gian, bị trà trộn với bao nhiêu bụi bặm tạp chất của không gian, bị hoen ố nhợt nhạt sắc màu theo sự biến thiên và thay đổi nhịp nhàng của loài người qua cuộc sống. Do vậy, ai đó vận dụng một ít trí tuệ nhãn để nhìn, sử dụng từng phân pháp nhãn để tư duy, người ta thấy rõ giáo lý của Phật mà con người của Phật Giáo sử dụng ngày nay tuyệt đại đa số lệch hướng chỉ nam GIỚI – ĐỊNH – TUỆ, sai đường giải thoát Văn Tư Tu mà đức Phật đã một đời đinh ninh dạy bảo! Tu Phật mà không sanh trí tuệ nhận thức chánh/tà giúp giải thoát và tri kiến giải thoát (vô tướng/ vô nguyện/ không) đó là sai đường lạc lối, chớ khổ công vô ích! Đúc tượng, xây tháp, xảo biện tu trì, tụng đọc, cầu vọng sắc tướng, lễ bái mê tín đó chắc chắn không phải đạo Phật!…

Công đức và phước đức, sai lầm nguy hiểm khi hiểu sai

Chúng ta cần nên lưu ý tránh bị nhầm lẫn giữa Phước đức và Công đức, thậm chí mê lầm đến độ lạm phát từ những việc nhỏ nhặt, linh tinh như: góp tiền, cúng dường xây dựng, hối lộ tâm linh, cầu vọng, van lụy, nô dịch, xưng tán tướng tượng, tuyên truyền tà pháp… mà đen những điều đó tà kiến biện thông hô hào là công đức, công quả này nọ, nhầm lẫn cơ bản công sức việc thế gian.

Như lời Tổ Đạt-ma: “Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do sự hiểu biết nông cạn của mình nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ? Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, mê muội, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, lập lờ.”

Tóm tắt phân biệt công đức và phước đức

Phước đức: tương đương với thiện nghiệp. Trong thiện nghiệp thì từ thiện chỉ là một phần rất nhỏ, mà thiện nghiệp có 10 điều nằm ở cả 3 khu vực là: Thân (cứu sanh, thiện thí, không tà dâm), Khẩu (, nói lời chân thật, nói lời ngắn gọn, nói lời lịch sự, nói lời hòa đồng), Ý (ý không tham, ý không sân, ý không si)

Phước đức là những việc làm bên ngoài (từ thiện người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi, người nghèo khổ), giúp đỡ cộng đồng (kiến thức đúng, phương tiện sống, phương tiện học tập, tu tập, cúng dường nơi tụ tập), bảo vệ môi sinh, nhằm trợ duyên giúp giảm thiểu quả báo của bản thân, tránh bớt những oán nghiệp thế gian chứ hoàn toàn không giúp đắc đạo.

Công đức: là do ta tự soi chiếu bên trong mình, tự soi chiếu chỉnh sửa lại hành thức bên trong mình, công phu tu thành phẩm hạnh để dần trở về với ĐẠO. Tự tu thân là công, tự tu tâm là đức.

Công đức không tạo được bằng:

  • Những việc làm theo hình tướng như đắp tượng, xây tháp, đúc chuông
  • Xây chùa, bố thí, cúng dường chỉ là tu phước, không thể lấy phước làm công đức được. Xem thêm Luận về Xây Chùa, Đúc Tượng, Lễ Lạy – Thiết Thất Lục Môn Yếu Chỉ
  • Mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả những tham lam, ngu si, giả hiện vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục

Phân biệt được đâu là phước đức, đâu là công đức giúp là điều kiện tiên quyết của người Phật Tử và người giảng Phật Pháp.

Ngoài ra làm thiện tích phước cũng cần phải hiểu cho đúng thì mới có kết quả. Xem thêm: Làm thiện thế nào để thật sự có phước đức

Phân tích chi tiết về công đức và phước đức

Nói về chữ “Đức” tức là nói đến chữ Đạo. Công đức và phước đức là khái niệm không có trong phật học nguyên thủy, và xuất hiện khi Phật Học truyền qua Trung Quốc. Cho nên để hiểu đúng chúng ta cần hiểu thêm về lịch sử có liên quan.

Screen Shot 2017-12-14 at 16.59.18

Chữ Đạo trên xuất phát từ triết lý về đạo giáo cổ xưa của người Trung Quốc do Lão Tử đề xướng vào khoảng TK VI TCN. Sau khi Phật học được truyền bá vào Trung Quốc, được triển khai phối hợp rộng rãi thì khái niệm về Đạo được hiểu theo hai nghĩa:

  • Nghĩa hẹp: là con đường. Cụ thể:
    • Đạo Phật: con đường dẫn đến sự giác ngộ giúp giải thoát luân hồi.
    • Lục đạo: 6 con đường mà chúng sanh trôi nổi trong vòng xoáy luân hồi (Trời, người, A-tu-là, ngạ quỉ, địa ngục, súc sanh)
    • Bát chánh đạo: là tám con đường đúng đắn giúp thoát luân hồi
  • Nghĩa rộng: là hàm tính nguyên thủy của trời, đất, vạn vật hữu hình, vô hình

Cho nên trong “Đắc Đạo” thì nên hiểu chữ “đạo” theo nghĩa rộng, tức là thành tựu công đức (công hạnh) để giúp chuyển hóa hữu vi (cầu, tranh, đoạt, chấp) thành vô vi mà thể nhập vào Đạo. Trong một số tài liệu về phật học được biên dịch từ Trung Quốc, thì khái niệm về Đạo (tĩnh lặng, tịch diệt, dung hợp, viên thông, vô cực) được hiểu tương nghĩa với Niết Bàn (Tĩnh-Tịnh-Không) trong phật học nguyên thủy.

Cũng tương tự như học thuyết giác ngộ nguyên thủy (Phật học nguyên thủy) mà Đức Phật đã thuyết giảng xưa kia (TK VI TCN) đều xoay quanh ý niệm trọng tâm “Khổ và Diệt Khổ”. Và luôn nhớ rằng Phật học nguyên thủy hoàn toàn không phải là tôn giáo hay triết học trừu tượng hay tâm lý học(nhằm trấn an, kích hoạt an/vui/khỏe/nhàn/lạc…) hay triết lý dưỡng sinh(tô điểm sắc thân tươi nhuận, trường thọ) hay tu luyện công phu/pháp thuật hay nghệ thuật sống (khôn khéo, lèo lách trong đời sống để thành công tiền tài/danh vọng/hưởng thụ thanh nhàn)… Nội dung thiết yếu của triết lý Đạo giáo nguyên thủy cũng vậy, hoàn toàn không phải là tôn giáo giáo hay triết học trừu tượng hay tâm lý học hay triết lý/nghệ thuật sống. Triết lý này đã được trình bày rất rõ ràng trong tài liệu “Đạo Đức Kinh”, chi tiết cụ thể bạn đọc có thể tham khảo thêm.

Tóm lược vài ý chính chứa đựng tính tương đồng giữa của Đạo so với giáo pháp giác ngộ – điều đã được Tổ Đạt ma vận dụng và triển khai thành công trong việc truyền giáo sang Trung Quốc vào khoảng cuối TK V (xem bản kinh “Thiếu Thất Lục Môn”), ngài đã khéo léo giảng giải sao cho phù hợp với nhận thức truyền thống của tín chúng bản địa vào thời bấy giờ giúp họ có thể dễ dàng đón nhận (khế cơ) giáo pháp mới – dung hòa phật học và lão giáo – một cách chuẩn xác.

        Trở lại nội dung đối chiếu tương đồng giữa Phật học và Đạo giáo, điều mà chúng ta cần nên lưu ý tránh bị hiểu nhầm tính tương đồng về một vài ý niệm căn bản giữa Đạo giáo và Phật học, điều này không có nghĩa qui đồng cho rằng Đạo giáo thay thế học thuyết Giác ngộ.

       Những ý niệm tương đồng giữa Đạo giáo nguyên thủy và Giáo pháp Giác ngộ nguyên thủy như sau:

                2-1. Đạo là thường hằng, bất biến, là nguồn gốc của vạn vật -> tương đồng với Niết Bàn là bản thể thường hằng của chư pháp.

                2-2. Đạo thường (luôn luôn, như như) Vô Vi(không cầu vọng, không tranh giành, không chiếm đoạt và không chấp giữ), không giống như những gì mà chúng ta gọi là(Danh) hay thấy biết bằng 5 giác quan bình thường(Đạo khả đạo phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh) và không mang hình tướng, không phải là tên gọi của thế gian (Vô, danh thiên địa chi thủy). Tức là Đạo luôn tĩnh lặng, tịch diệt và Không (Vô Danh, Vô Vi, Vô Tướng). Tương đồng với 3 hàm tính: Tĩnh-Tịnh-Không của Niết Bàn. Vì vậy, những khái niệm như là: đắc đạo cũng được hiểu tương đồng với nhập niết bàn và pháp vô vi tương đồng với pháp tánh(vô duyên khởi, vô tướng) chính là ở chỗ này.

               2-3. Đức là năng lực để chuyển luân vạn vật quay về hoặc cách xa Đạo. Công đức giúp quay về với Đạo, đạo đức giúp tiếp cận với Đạo, phước đức giúp không cách xa Đạo, thất đức làm rời xa Đạo Cho nên khái niệm Đức gần tương đồng với khái niệm Nghiệp trong Phật học:   

                  * Công đức tương đồng với Chánh Định Nghiệp, dẫn đến Tuệ tri, Huệ năng.

                  * Đạo đức tương đồng với Chánh Nghiệp.

                  * Phước đức tương đồng với Thiện Nghiệp.

                  * Thất đức hay Ác đức tương đồng với Tà Nghiệp hay Ác Nghiệp.

         Đây cũng là điều mà chúng ta cần nên lưu ý tránh bị nhầm lẫn giữa Phước đức và Công đức, thậm chí mê lầm đến độ lạm phát từ những việc nhỏ nhặt, linh tinh như: góp tiền xây dựng, hối lộ tâm linh, cầu vọng, van lụy, nô dịch, xưng tán tướng tượng, tuyên truyền tà pháp… mà đen những điều đó tà kiến biện thông hô hào là công đức, công quả này nọ, nhầm lẫn cơ bản công sức việc thế gian.

        Nhớ lại tích xưa lúc Tổ Đạt Ma sang Trung Quốc đến tương kiến vua Lương Vũ Đế và vua hỏi: Lâu nay trẫm cho xây chùa, chép kinh, độ tăng rất nhiều không kể xiết, vậy có công đức gì không?.

       Tổ đáp: chẳng phải công đức, đó chỉ là phước đức thế gian tức nhân hữu lậu tạo quả nhỏ trong vòng nhân, thiên(vẫn còn luân hồi  trong các cõi người, trời) như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật, công đức thật sự đó là trí phải được trong sạch hoàn toàn và thể phải được trống không vắng lặng (phải công phu tu luyện công hạnh) hoàn toàn không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng, cúng dường) mà cầu được!…

          Sau này Tổ Huệ Năng nhắc lại: “Kiến Tánh là Công, bình đẳng là Đức”, “Tự tu Thân là Công, tự tu Tánh là Đức”…

           Lưu ý là luôn: tự mình tự tin tự lực tự tu tự thành tự tại.

           Do đó, cũng cần phải phân biệt: Công sức, thứ bỏ ra hành việc thế gian, khác với Công đức, hành công hạnh qua công phu tu luyện chánh trí và đức nhân. Công sức hay phước đức chỉ là nhân đem lại quả là điều tốt lành nhưng vẫn chỉ quanh quẩn ở thế gian.

Còn Công Đức, công hạnh là nhân đem lại quả là nhập đạo, hay đoạt giải thoát. Lưu ý: công phu mà thiếu chánh trí quán sát chánh tâm giúp thành tựu công hạnh vô vi, sẽ là lạc vào ngoại Đạo.

      Tóm lại, không phân biệt phước đức và công đức thì sẽ không phân biệt đâu là chánh, tà. Thì sao mà thấy đường vào Đạo. Căn bản của pháp giác ngộ là luôn vận dụng trí tuệ để thấy được Tánh. Siêng năng ưa thích nương tựa, cầu vọng, tán thán sắc tướng mà biếng lười tư duy là tu mê ngộ, tất sẽ thấy ma.

Không phân biệt giữa Công đức/Phước đức cũng như Công phu/Công sức thì không bao giờ thấy được ĐẠO. Nên nhớ rằng Công đức là do ta tự soi chiếu bên trong mình(tự soi chiếu chỉnh sửa lại hành thức bên trong mình) tu thành phẩm hạnh để dần trở về với ĐẠO, Phước đức là những việc làm bên ngoài (từ thiện người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi, người nghèo khổ), giúp đỡ cộng đồng (kiến thức đúng, phương tiện sống, phương tiện học tập, tu tập), bảo vệ môi sinh, nhằm trợ duyên giúp giảm thiểu quả báo của bản thân, tránh bớt những oán nghiệp thế gian chứ hoàn toàn không giúp đắc đạo. Một lần nữa chúng ta chớ bị lầm lẫn điều cơ bản này.

Cũng cần phân biệt giữa công sức(gắng sức làm những việc thế gian, gắng sức học/giảng dạy) và công phu(chuyên cần tu luyện theo định hướng). Tuy nhiên nếu việc định hướng hữu vi(cầu/tranh/đoạt/chấp) thì tất nhiên công phu ấy chỉ là ngoại Đạo hoặc công sức hành trì tu tập theo tà pháp, nô dịch (hộ pháp) cho tà sư, tuyên truyền cổ vũ tà pháp, dẫn tới gây mê hoặc cho tín chúng, đó sẽ là hành động thất đức (Tà/Ác nghiệp).

Đối chứng lời dạy của Tổ Đạt Ma:

          “Nếu người cầu đạo không hiểu được ý nghĩa của việc đúc vẽ hình tượng (lấy thân làm lò đốt, lấy pháp làm lửa nóng, lấy trí huệ làm thợ khéo, lấy ba nhóm giới thanh tịnh cùng với sáu pháp ba-la-mật làm khuôn đúc để mà đúc luyện) chứ không phải là pháp hữu vi hoại nát, thì do đâu có thể nói là được công đức?… Lại nói về việc lễ lạy (Lễ tức là cung kính đối với chân tánh, lạy tức là khuất phục sự ngu si tăm tối), cần phải theo đúng như chánh pháp. Lý trong tâm phải luôn sáng rõ, sự bên ngoài phải biết tùy hoàn cảnh mà thay đổi thích hợp. Hiểu được ý nghĩa như thế mới gọi là theo đúng như chánh pháp… Bên ngoài rõ biết, bên trong sáng tỏ, tánh và tướng cùng tương hợp với nhau. Nếu không làm theo đúng pháp như thế, chỉ mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả những tham lam, ngu si, thường làm các nghiệp ác, thì ngoài chỉ nhọc nhằn thân xác vô ích, giả hiện vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục, chẳng ra khỏi chốn luân hồi, làm sao lại thành công đức?.  Người đời nay không hiểu được những nghĩa lý ấy, do sự hiểu biết nông cạn của mình nên chỉ lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ? Thấy pháp hữu vi thì hết lòng đắm chấp, mê muội, nghe nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẩn, lập lờ. Chỉ tham những điều lành nhỏ nhoi trước mắt, nào biết được nỗi khổ lớn mai sau? Tu học như thế chỉ tự mình nhọc công phí sức, bỏ chánh theo tà, ai bảo là được phước?”…

Xem thêm Luận về Xây Chùa, Đúc Tượng, Lễ Lạy – Thiết Thất Lục Môn Yếu Chỉ

Lời dạy Tổ Huệ Năng:

  “Xây chùa, bố thí, cúng dường chỉ là tu phước, không thể lấy phước làm công đức được. Công đức ở tại Pháp thân, không phải ở phước điền. Tự trong pháp tánh đã có công đức. Kiến tánh là công, bình đẳng là đức. Bên trong thấy Phật tánh, bên ngoài tu hành cung kính. Nếu như khinh tất cả mọi người, không cắt đứt được sự chấp ngã, thì tự mình không thể có công đức được. Nếu như tự tánh mình hư vọng, Pháp thân không còn có đức nữa. Nếu trong niệm niệm liên tục có tu hành phước đức và bình đẳng chơn tâm, thì công đức sẽ không nhỏ và hành vi luôn luôn cung kính. Tự tu thân là công, tự tu tâm là đức. Công đức là do tự tâm mà ra, phước và công đức là khác nhau”.

Hãy cùng nhau thức tỉnh để mà nhận ra chân lý qua lời truyền dạy của Phật và chư Tổ chính quy, nếu không muốn làm dân ma thời mạt pháp.

 

Chánh tri kiến và tư duy về tên gọi “Phật Thích-ca” hay “Phật Cồ-đàm”

Thích-ca Mâu-ni Phật là một cách gọi khác của Đức Phật Cồ-đàm và quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Với tinh thần luôn truy tìm gốc gác những gì mình nghe, chánh tri kiến để gọi đúng nhất tên Đức Phật, chúng tay thấy trong tất cả các kinh điển xưa tiếng Pali gốc đều dùng tên Cồ-đàm (Gautama) để gọi Đức Phật. Cách gọi đó theo đúng cách gọi của thời bấy giờ và còn phổ biến ở nhiều quốc gia ngày nay là gọi một người bằng họ của người đó, và họ của Đức Phật là họ Cồ-đàm.

Tiêu biểu nhất là trong Kinh Pháp Cú, Phẩm Tạp Lục, đều sử dụng chỉ một cách gọi Cồ-đàm dành cho Đức Phật:

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Phật-đà.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Đạt-ma.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm Tăng-già.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường niệm sắc thân.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường vui bất sát.

Đệ tử Cồ-đàm

Thường tự tỉnh thức

Vô luận ngày đêm

Thường ưa thiền quán.

Tên gọi Phật Thích-ca chỉ phổ biến ở hai quốc gia là Trung Quốc và Việt Nam. Cách gọi này chỉ mới xuất hiện gần 10 thế kỉ sau thời Đức Phật, khi Phật Giáo truyền qua Trung Quốc. Thích-ca (Sakya) được cho là tên bộ tộc của Ngài Cồ-đàm, nhưng gọi một người bằng tên bộ tộc cũng chưa thật đúng, và gọi Thích-ca cũng dễ nhầm lẫn với trường phái Sakya ở Tây Tạng. Còn từ Mâu-ni có nghĩa là “người trí giả trầm lặng” mà mọi người tôn kính dành gọi Đức Phật, người đã giác ngộ và luôn khiêm cung xem chúng sanh là bạn.

Học Phật điều tiên quyết là chánh tri kiến và chánh tư duy, chúng ta hãy cũng thực hành chánh ngữ bằng cách gọi và tri ân Đức Phật bằng tên đúng nhất: Cồ-đàm Mâu-ni Phật.

Chúng con đồng thành kính tri ân Ngài, Bổn Sư Cồ Đàm Mâu-ni Phật.

Với đọc giả muốn tìm hiểu sâu về vấn đề này, có thể tham khảo phần tên gọi Đức Phật trong cuốn sách “Phạm Võng Tinh Giải” do tác giả TOTHA. Quý đọc giả có thể đọc thêm tạito Sách Phật Học Tinh Hoa: Phạm Võng Tinh Giải Tập 1 – TOTHA

Sau đây là trích một phần trong quyển sách:

*Lược sử thời gian truy cứu để cùng hiểu đúng (Trạch giác) về phái Thích-ca/Thích-già/Tát-ca giáo phân phái trong phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng cùng sự biến tướng bành trướng:

Trước tiên, chúng ta sẽ cùng tìm xem sự xuất hiện của bộ tộc शाक्य [phiên âm La-tinh là Sākya, Hán Việt , đọc là Thích-già/Thích-ca]. Tham khảo đối chiếu lại bản đồ Ấn Độ cổ thời điểm năm 1750 TCN và năm 600 TCN để hình dung. Ta xem:

Picture1.png

Picture12.png

Theo tư liệu khảo cổ lịch sử thế giới cho biết bộ tộc SakyaThích-ca, Thích già thuộc bộ lạc Aryan xuất hiện TK XX TCN, sống du mục rải rác khắp vùng thảo nguyên Âu-Á. Khoảng TK XVII bộ lạc Aryan từ Đông Afghanistan cùng tôn giáo Hindu Kush thờ thần mặt trời đổ bộ dần sang: Pakistan/Bắc Ấn Độ/Nepal. Đến khoảng TCN TK VI TCN bộ tộc SakyaThích-ca thuộc bộ lạc Aryan phân bố định cư ở: 1. Gandhara(Càn-đà-la) nay thuộc Đông Afghanistan và một phần của Tây Bắc Pakistan. Đây là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại  ; 2. Sakastan ; 3. Matsya(Ma-thâu-la) phía nam thủ đô Delhi  của Ấn Độ ngày nay. Đây cũng là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại ; và bộ tộc SakyaThích-ca rải rác ở 4. Lumbidi(Lâm-tỳ-ni) phía cực Bắc Ấn Đô gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), nơi sinh ra Đức Phật Cồ-đàm Sĩ-đạt-ta. Nhắc lại, thế danh (tên họ) của Đức Phật chữ Ấn Độ là शिद्धत्थTênङोतमHọ(phiên âm La-tinh SiddhārthaTên GotamaHọ, phiên âm Hán Việt là: Sĩ-đạt-ta(Tên) Cồ-đàm(Họ), sinh quán लुम्बिनी[phiên âm La-tinh Lumbidi(Lâm-tỳ-ni)] phía cực Bắc Ấn Đô gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), thời điểm ra đời (đản sinh) khoảng TK VI/V/IV? TCN các kinh sách để lại không rõ ràng, phả hệ thuộc bộ tộc शाक्य(phiên âm La-tinh là Sākya, phiên âm Hán Việt là Thích-già/Thích-ca). Giáo pháp giác ngộ (phật pháp/phật học) do Ngài Cồ-đàm chỉ dạy được thịnh hành ở Ấn Độ đến gần giữa TK V thì bị suy hoá dần (biến tướng thành tôn giáo tín thần, đến TK XII thì bị diệt vong hoàn toàn). Lúc này, thời điểm khoảng giữa TK V vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma – vị Tổ cuối cùng của Đạo Phật chính thống (nguyên thuỷ) tại Ấn Độ – phải thân hành sang Trung Quốc để truyền bá chánh pháp – xem như Sơ Tổ  Đạo Phật chánh tông Trung Quốc – giúp lưu truyền chánh pháp được 5 đời TổHuệ Khả -> Tăng Xán -> Đạo Tín -> Hoàng Nhẫn -> Huệ Năng. Đạo Phật chánh tông (nguyên thuỷ) thịnh hành ở Trung Quốc chưa đầy 2 thế kỷ thì cũng bị biến tướng lai tạp cùng thần giáo/tiên giáo/huyễn giáo (triết học) phát triển rộng khắp bởi sức ảnh hưởng của “Lão phật gia Võ Tắc Thiên Hoàng Đế” hoằng hoá khai thị… Và khoảng giữa TK VI – thời nhà Đường – có vị sư chánh trực là Huyền Trang (玄奘) nhận thấy quá nhiều dị biệt lẫn mâu thuẫn trong kinh sách phật giáo, nên ông đã đích thân sang Ấn Độ để truy tìm chánh kinh mang về Trung Quốc biên dịch lại…đến cuối TK XI cũng dần bị lại tạp biến tướng hoàn toàn thành tôn giáo…

Như vậy, hãy cùng nhau trạch giác chi đồng chánh tri kiến và tư duy đúng đắn (Chánh tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa giữa Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni PhậtNam mô Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni Phật thì đâu gọi là Chánh Ngữ và Chánh Niệm về vị Đạo Sư tôn kính của chúng ta? Có vì danh xưng dòng họ Thích…(đúng nghĩa là bộ tộc Thích-ca/Thích-già) phổ biến ờ Tây Tạng mà vội cả tin đây là phật giáo chính tông của Thầy Sĩ-đạt-taTênCồ-đàmHọ hay không?!… Ví như dân tộc Kinh có nhiều thầy tên họ: Trần…, Nguyễn…, Đinh…thì có chắc rằng người, nhóm người, mọi người dân tộc Kinh đều là đệ tử của thầy Nguyễn Trãi hay cháu con của Nguyễn Trãi? Đệ tử của Nguyễn Trãi, cháu con của Nguyễn Trãi có chắc rằng hiểu đúng, làm đúng lời Nguyễn Trãi dạy hay không?…  Nhớ lại thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, bộ tộc Thích-ca đã gây tạo hiềm khích với vua Tỳ-lưu-ly -> thù hằn sâu nặng, khiến vua mang quân sang tiêu diệt sạch dòng tộc Thích-ca, lúc ấy đệ tử Phật là Mục-kiền-liên dùng thần thông can thiệp nhưng bất thành, Đức Phật bảo rằng thần thông không thắng được nhân quả… Và đồng cùng nhau đối chiếu xem lại 28 vị Tổ Ấn Độ cho đến 5 vị Tổ chánh tông tại Trung Quốc do Tổ Đạt-ma chọn truyền y bát, có thấy ai ghép tiền danh họ Thích…?

Một truyền tích về họ Thích…(theo một số chi phái của phật giáo Trung Quốc) cho rằng vào khoảng năm 220 – 300 có một nhà sư hiệu là Trúc Đạo Thanh hay còn gọi là Đạo Hinh, đồng thời vị sư này còn có thêm tên gọi là Thích Đạo Thanh… Số khác cho rằng do Thích Đạo An (năm 312 – 385) thiết định ra…. Chúng ta hãy cùng nhau chánh tri kiến và tư duy về lịch sử phật giáo Trung Quốc tại các thời điểm: *TK III:  – Đạo Sư Khương Tăng Hội (Giao chỉ) -> Đông Ngô (Tôn Quyền); – Đạo Sư Đàm-ma-ca-la -> Bắc   Ngụy (Tào Tháo) ; – Đạo Sư Châu Tử Hoàng -> Tây Thục (Lưu Bị) là những danh sư nỗi tiếng (trong đó Đạo Sư Khương Tăng Hội được tôn là đệ nhất danh sư), những vị ấy không hề mang họ Thích… -> Năm 310 Đạo Sư Phật-độ-trừng từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Đạo An (312-385), Huệ Viễn (344-416) -> Năm 384 Đạo Sư Cưu-ma­-la-thập từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Tăng Triệu (384–414) và Đạo Sinh (360–434). Chỉ mỗi sư Đạo An phác thêm họ Thích có thể hiểu theo nghĩa là ưa thích (gần như nghĩa ái), Đạo An (an bình trên đường đạo), Thích Đạo An tư nghĩa tự niệm tâm Ưa thích thành đạt an bình trên đường đạo hay Thích Đạo Thanh tư nghĩa tự niệm tâm Ưa thích thanh tịnh trên đường đạo…ái giác thay cho ái dục đời thường, tựa như giác nghĩa dụng giải Dục thần túc giác chi (khát khao mong muốn giác ngộ) thuộc chi phần Tứ thần túc/Tứ như ý túc trong 37 phẩm trợ đạo (Tam thập thất Bồ-đề phẩm), nhằm khéo léo cải thiện/hoàn thiện (thiện xảo) tự nhắc nhở tự tâm mình dần xoay thay chuyển/hoá giải dục mê chi trần cấu… Cũng vậy, ở Kinh Pháp Cú 300/301 thiện xảo thay chuyển/hoá giải niềm vuiHỉ/ưa thíchÁi thế tục thành niềm vui bất sát/ưa thích thiền quánTư duy an lặng nghĩa là vậy… Nghĩa là, Dụng pháp Chuyển pháp Thiện xảo Giải giới Pháp...

      Tóm lại, điều mà chúng ta – những người tu học giác ngộ chân chính, thật sự được gọi là đệ tử của Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm tôn kính – cần phải hiểu đúng và tư duy đúng (Chánh Tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa (Chánh Ngữ) “Thích-ca” cùng sự đồng hoá Tát-ca phái/Thích-già giáo của Mật giáo Tây Tạng vào phật giáo… Đó là sự thật.

Trích: “Phạm Võng Tinh Giải Tập 1”, tác giả: TOTHA. Quý đọc giả xem thêm sách ở bài viết Sách Phật Học Tinh Hoa: Phạm Võng Tinh Giải Tập 1 – TOTHA