Sự thật về Đức Phật

Tu theo Phật, học cách thành Phật theo đúng chánh pháp nguyên thuỷ, đồng nghĩa là phải luôn chuyên cần vận dụng Trí tuệ để thấu quán đúng Sự thật thì mới thật sự giải mê khai ngộ, bằng ngược lại lười tư duy, rập khuôn tuân thủ, sáo ngữ tà biện, đó thảy đều là ma đạo, là Phật giáo biến tướng… Nội dung này được trích lược từ bài giảng của Thầy Đỗ Thanh Hải trong tập sách “Phạm Võng Kinh Tinh Giải”  NXBTH Đà Nẵng 2017. Với cách lý giải khoa học của Thầy (công phu chánh định sinh tuệ tri chánh lý) , đồng thời cách trình bày tập sách phù hợp với mọi đối tượng nhận thức sẽ giúp mọi người ngộ ra rất nhiều điều ẩn mật suốt tận ngàn xưa, lần tìm nhặt lại từng chiếc lá bồ-đề trong nắm tay của Đức Thế Tôn ngày ấy…

Hãy cùng nhau soi lại con đường tu học giác ngộ sao cho đúng đắn và cùng thắp lên ánh sáng trí tuệ xuyên suốt trên quảng hành trình tâm thức tiến hóa theo đúng với chánh lý giác ngộ nguyên thủy ngày ấy mà Đức Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni đã từng truyền giảng… Đó mới thật sự gọi là đệ tử Phật 

           Nhặt lá rừng mê…

     Điểm lại dòng lịch sử phật giáo xét từ thời điểm thế kỷ thứ VI trước công nguyên, kể từ lúc giáo pháp giác ngộ (phật học) do Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm, hay còn gọi là Đức Phật Cồ-đàm Mâu-ni, truyền giảng, tính đến thời điểm hiện nay đã hơn 2600 năm trôi qua… Và kinh sách cũng đã từng trải qua nhiều giai đoạn sửa đổi, pha tạp trong giới phật giáo… Do vậy mà kinh sách phật học chính tông (nguyên thủy) theo dòng chảy thời gian bị biến dị đi rất nhiều, thậm chí sai cơ bản, đảo ngược cả chân lý.

Nguyên nhân chính là do lai tạp tiên giáo/thần giáo/huyễn giáo/ma giáo, hoặc do hiểu sai/hành sai/vi phạm giới luật cơ bản trong giáo thuyết giác ngộ mà Đức Phật đã từng chỉ dẫn. Học Phật là học cách tư duy và nhận thức đúng đắn (chánh tri kiến và tư duy), tinh cần lọc lựa (trạch chi) loại ra những chi tiết linh tinh (hay còn gọi là pháp tướng)  sai trái/xấu ác (tà pháp), để dần nhận ra tính cốt lõi bao hàm của sự vật/hiện tượng (pháp tánh).

   Tự tánh chúng sinh vốn luôn trong sạch (thanh tịnh), bình đẳng (đẳng giác), không dao động (bất nghi) cớ sao giờ đây lại mang những tướng mạo (thú tướng) giả hợp, ô trọc nếm trải biết bao vinh/nhục, lạc/khổ tương tàn như thế này? Tác hành Sát/Tranh lẫn nhau suốt nhiều đời kiếp quanh đi quẩn lại cũng chỉ vì những hành vi ấy – tương ưng nghiệp báo nghiệp – phải mãi mang thân thú hoài như vậy?… Hãy dần hồi tỉnh lại, đồng nhớ rằng mọi chúng sinh nói chung, mỗi con người chúng ta nói riêng đều chung cùng là con của cha đại ngàn và mẹ tình thương yêu bao la bất tận, tất cả đều cùng xuất xứ từ BẢN TÂM/CHÂN TÂM/NGUYÊN TÁNH vốn viên nguyên thường hằng vi diệu đẳng đồng, bởi do sai lầm ngày ấy…tự tâm ngã chấp, tự phân biệt tách ly khỏi BẢN TÂM đẳng đồng viên hợp -> tự tham cấu cùng lục trần phiền não… 

       “Tương nghiệp sinh tạo buộc ràng cũng bởi tại ta và tự giác tự chủ thoát ra nào ai khác ngoài ta? ”… Đó là sự thật.   

Tự ta gây ác nghiệp
Tự ta nhiễm cấu trần
Tự ta tránh ác nghiệp
Tự ta tịnh thân tâm,
Nhiễm/Tịnh đều do ta
Không tai thanh tịnh ai.
(Pháp Cú 165)

Hãy cùng nhau nhìn lại, và “thẳng thắn nhìn nhận chủ huyệt của những sai lầm bị khoả lấp bởi tà kiến biện thông, thì mới thật sự là người tu giác ngộ.”

Đại ngàn đường về Ta
Bước đầu con vấp ngã
Mẹ Cha nâng bước xa
Con đi không về nhà
Bước lạc, bước lạc ma
Vinh, nhục tỉnh nhận ra
Giới luật thầy chỉ ta
Thắp sáng đường về nhà
Tự giác tự giác tha
Chớ bị lầm nhà ma…

        Tương kỳ chư pháp hiện thời (chu kỳ suy mạt) cùng chúng sinh tương ngộ chốn nơi này, cùng nhau cùng hứng chịu chung cám cảnh…, chênh vênh trên biển sinh tử, tù túng trong rừng mê che chắn, thâm nhiễm tam độc tham/sân/si + tu học với rừng kinh sách nguỵ tạo mê cuốn ngày càng dày đặc che chắn lối đường xưa, đường về xa ngút ngàn trùng vinh/nhục… Nay đoàn thể TOTHA chúng ta sẽ cùng nhau từng bước từng bước tự chủ và tri kiến, cùng tỉnh giác đồng tâm đồng lọc lựa (trạch chi) chắt chiu tìm nhặt lại từng chiếc lá bồ-đề trong nắm tay của Như Lai đã lựa trao ngày ấy… Đồng tâm đồng tinh cần ươm mầm hoa giới hạnh, đồng cùng đan kết nên hoa tràng chánh pháp, dần khai hương ưu-đàm diệu pháp liên hoa, vi diệu hoá hỉ pháp vị đẳng hòa chuyển lưu thời mạt pháp…


Luôn là người Khất Sĩ
Trầm lặng giữa rừng mê
Tìm nhặt lá Bồ-đề
Kỳ mạt pháp giải mê…

Lược sử thời gian truy cứu để cùng hiểu đúng (Trạch giác) về phái Thích-ca/Thích-già/Tát-ca giáo phân phái trong phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng cùng sự biến tướng bành trướng

         Trước tiên, chúng ta sẽ cùng tìm xem sự xuất hiện của bộ tộc शाक्य [phiên âm La-tinh là ŚākyaSanskrit/SākyaPali, Hán Việt , đọc là Thích-già/Thích-ca]. Tham khảo đối chiếu lại bản đồ Ấn Độ cổ thời điểm năm 1750 TCN và năm 600 TCN để hình dung. Chúng ta cùng xem:

Theo tư liệu khảo cổ lịch sử thế giới cho biết bộ tộc SakyaThích-ca, Thích già thuộc bộ lạc Aryan xuất hiện khoảng TK XX TCN, sống du mục rải rác khắp vùng thảo nguyên Âu-Á. Vào khoảng TK XVII bộ lạc Aryan từ Đông Afghanistan cùng tôn giáo Hindu Kush thờ thần mặt trời đổ bộ dần sang: Pakistan/Bắc Ấn Độ/Nepal. Đến khoảng TK VI TCN bộ tộc SakyaThích-ca thuộc bộ lạc Aryan phân bố định cư ở: 1. Gandhara(Càn-đà-la) nay thuộc Đông Afghanistan và một phần của Tây Bắc Pakistan. Đây là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại ; 2. Sakastan ; 3. Matsya(Ma-thâu-la) phía nam thủ đô Delhi  của Ấn Độ ngày nay. Đây cũng là địa danh có nhiều di tích phật giáo thời cổ đại ; và bộ tộc SakyaThích-ca rải rác ở 4. Lumbidi(Lâm-tỳ-ni) phía cực bắc Ấn Độ gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), nơi sinh ra Đức Phật Cù-đàm/Cồ-đàm Sĩ-đạt-ta. Nhắc lại, thế danh (tên họ) của Đức Phật chữ Ấn Độ là शिद्धत्थTênङोतमHọ [phiên âm La-tinh SiddhārthaTên(Sa.Gautama/Pa.Gotama)Họ, phiên âm Hán Việt là: Sĩ-đạt-taTên(Sa.Cù-đàm/Pa.Cồ-đàm)Họ, sinh quán लुम्बिनी[phiên âm La-tinh Lumbidi(Lâm-tỳ-ni)]phía cực bắc Ấn Độ gần biên giới Nepal/Tây Tạng (ngày nay thuộc Nepal/Tây Tạng), thời điểm ra đời (đản sinh) khoảng TK VI/V/IV? TCN các kinh sách để lại không rõ ràng, phả hệ thuộc bộ tộc शाक्य(phiên âm La-tinh là Sākya, phiên âm Hán Việt là Thích-già/Thích-ca). Giáo pháp giác ngộ (phật pháp/phật học) do Ngài Cồ-đàm chỉ dạy được thịnh hành ở Ấn Độ đến gần giữa TK V thì bị suy hoá dần (biến tướng thành tôn giáo tín thần, đến TK XII thì bị diệt vong hoàn toàn). Lúc này, thời điểm khoảng giữa TK V vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma (vị Tổ cuối cùng của Đạo Phật chính thống/nguyên thuỷ tại Ấn Độ) phải thân hành sang Trung Quốc để truyền bá chánh pháp – xem như Sơ Tổ  Đạo Phật chánh tông Trung Quốc – giúp lưu truyền chánh pháp được 5 đời TổHuệ Khả -> Tăng Xán -> Đạo Tín -> Hoàng Nhẫn -> Huệ Năng. Đạo Phật chánh tông (nguyên thuỷ) thịnh hành ở Trung Quốc chưa đầy 2 thế kỷ thì cũng bị biến tướng lai tạp cùng thần giáo/tiên giáo/huyễn giáo (triết học) phát triển rộng khắp bởi sức ảnh hưởng của “Lão phật gia Võ Tắc Thiên Hoàng Đế” hoằng hoá khai thị… Và khoảng giữa TK VI – thời nhà Đường – có vị sư chánh trực là Huyền Trang (玄奘) nhận thấy quá nhiều dị biệt lẫn mâu thuẫn trong kinh sách phật giáo, nên ông đã đích thân sang Ấn Độ để truy tìm chánh kinh mang về Trung Quốc biên dịch lại…đến cuối TK XI cũng dần bị lại tạp biến tướng hoàn toàn thành tôn giáo!…

        Nhắc lại, thời điểm lúc Tổ Đạt-ma sang Trung Quốc gặp vua Lương Võ Đế để được công khai truyền bá giáo pháp chính thống (nguyên thuỷ)/pháp tánh vô tướng tự tha, nhưng bởi do vị vua này rất mê tín dị đoan/ái pháp tướng hữu vi cầu vọng nương tựa, cho nên việc Tổ Đạt-ma được chính thức hoằng hoá chánh pháp tại Trung Quốc bất thành… Do đó, Tổ đành phải ẩn trú trên đỉnh núi Thiếu Thất cao xa, sâu kín, hiểm trở cùng nhiều cây rừng rậm rạp che chắn nhằm tránh sự truy sát của triều đình…và âm thầm truyền giáo bằng phương tiện thiện xảo (khế cơ) qua công phu Tứ Niệm XứThân/Thụ/Tâm/Pháp tương hành cùng chánh niệm hợp hoà theo Võ Đạo (Thái cực nhu hoà chuyển hoá), một mặt giúp tu sinh cùng nhau tự bảo vệ bởi sự truy sát của triều đình do tập họp đám đông e bị cho là tạo phản và phạm quân lệnh tối thượng (khi quân) của vua Lương Võ Đế, cấm Tổ Đạt-ma truyền giáo…dần dần tu sinh khắp nơi hội về (sáp tùng), trong hoàn cảnh đời sống khó khăn eo hẹp, không có phương tiện ghi chép và trốn tránh triều đình ẩn trú tạm nơi đỉnh núi Thiếu Thất hiểm trở xa cách khu cư dân, cho nên các tu sinh phải cùng lưu  trú với nhau một chỗ (lâm cư), cùng cộng lực cộng sinh với nhau và cùng nhau kết nối tu học. Từ đó hình thành Tiểu Tùng Lâm Thiếu Thất Sơn (tựa như Đại Tùng Lâm thời Đức Phật hoằng hoá thuở xưa), Tiểu Tùng Lâm Thiếu Thất Sơn sau đó được còn được Thiếu Lâm Tự Viện. Chỉ vậy thôi, mà đời sau thêu dệt đủ điều về công phu thiếu lâm (mãi võ) truyền đạo, gán mát Tổ-đạt-ma sáng chế, chân truyền đòn thế hay chiêu thức này nọ, vị đạo sư nào thi triển công phu thiếu lâm tuyệt đỉnh xem như đắc đạo?!… Mặt khác, Thiếu Lâm Tự Viện (Nơi tu sinh hội tụ kết nối tu học cách tự giác giác tha) biến tướng thành nơi thờ tự(Thiếu Lâm Tự)… Chúng ta hãy cùng tham khảo thêm trích lược bài viết của cố Hoà Thượng Thích Mãn Giác trong tập sách Pháp Bảo Đàn Kinh NXB Tôn giáo 2003:

       “Bản chữ Hán tôi dịch ở đây được dựa theo bản chữ Hán đã được san định kỹ lưỡng do công phu uyên bác của giáo sư Philip B.Yampolsky Đại học Columbia (The Platform Sutra of the Six Patriarch, the Text of the Tun-Huang Manuscript with Translation, Introduction, and Notes by Philip B.Yampolsky, Columbia University Press, New York, 1967). Trong phần mở đầu của quyển sách, giáo sư Yampolsky đã cống hiến cho độc giả những dữ kiện lịch sử rõ rệt về sự thành hình Thiền tông, căn cứ theo những tài liệu được khai quật từ động Đôn Hoàng; giáo sư đã chịu khó tham khảo hàng ngàn thiên khảo cứu Trung Hoa và Nhật Bản, cho độc giả nhìn thấy lại sự diễn biến của Thiền tông tại Trung Hoa từ những thế kỷ thứ VI, VII, VIII và IX, giáo sư đã tham khảo tất cả những tài liệu dữ kiện liên hệ đến Thiền tông ở những thế kỷ ấy, mà ngay rất nhiều học giả Trung Hoa và Nhật Bản cũng ít biết đến… Những gì chúng ta biết được về những Tổ sư Trung Hoa từ Bồ Đề Đạt Ma cho đến Huệ Năng đều do những truyền thuyết nguỵ tạo ở những thế hệ sau!.. Tất cả những sử gia Trung Hoa và ngoại quốc muốn viết gì về Huệ Năng đều lấy tài liệu chứng minh từ bộ Toàn Đường văn (Đài Bắc, 1961, 20 cuốn), nhưng theo giáo sư Yampolsky thì bộ “Bộ sách Toàn Đường văn” được biên soạn vào năm 1814 và sử dụng tạp nhạp tất cả những tài liệu một cách bừa bãi, và nhiều tài liệu đã được viết ra sau này và rất gần đây, thành ra không thể tin vào giá trị của những tài liệu ấy” (Yampolsky, op. cit., trang 31)”

        Tiếp kế, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu cơ bản về lược sử phật giáo Tây Tạng/Nepal tuy ở sát biên giới Ấn Độ nhưng do truyền thống sùng bái lâu đời của dân Tây Tạng là đa thần giáo/ma giáo(lễ nghi/bùa chú) cùng quyền lực cai quản khắc nghiệt của các vị đạo sư/pháp sư thần giáo(gọi là Lạc-ma/Gu-ru), tín chúng bị ám thị, áp đặt, răn đe, làm cho khiếp sợ, luôn ngoan mê phục tùng, sùng kính, tín mê theo những huyễn thuyết/ma lực/siêu huyền tôn tạo của các thầy tu (guru) ấy, chú ngữmantra/nghi quỹtantra cấy ghép vào tâm thức cuồng tín ngay từ thuở nhỏ cùng truyền thống gia đình di căn ám thị sang, đời đời kiếp kiếp sinh ra để được phụng sự…cho nên phật giáo Ấn Độ phải trải qua thời gian dài – khoảng giữa TK VII – mới chính thức được truyền sang Tây Tạng, xét lại thực chất phật giáo thời đó đã biến tướng thành mật giáo/thần giáo Ấn Độ từ lâu… Nhắc lại, vào thời điểm TK V phật giáo ở Ấn Độ biến tướng dần thành mật giáo/thần giáo đã khiến vị Tổ thứ 28, cũng là vị Tổ cuối cùng của Đạo Phật nguyên thuỷ (chính tông) tại Ấn Độ đó là Ngài Bồ-đề Đạt-ma phải rời khỏi Ấn Độ và thân hành sang Trung Quốc để truyền bá lại chánh pháp… Đến cuối giữa TK V, vị sư Tì-ni-đa-lưu-chi cũng phải lặn lội từ Ấn Độ ngược sang Trung Quốc để thỉnh giáo Tam Tổ Tăng Xán xin tu học chánh pháp… Cùng truy chứng đối ứng tương ưng (Trạch pháp giác chi) giai đoạn lịch sử nêu trên, chúng ta cùng tự nhận thức rằng phật giáo truyền sang Tây Tạng giữa TK VII gọi là chánh tông hay chánh giáo/chánh pháp được không?…và chỉ trong thời gian ngắn đã chia ra thành nhiều phân phái (Trắng, Vàng, Đỏ, Xanh) với những dị thuyết/huyễn thuyết khác nhau cùng những tranh luận/tranh đấu rất khốc liệt giữa các chi phái này… Đến thời điểm giữa cuối TK XII, là thời điểm hưng thịnh kết nối giữa Phật giáo Tây Tạng (Tạng giáo)/Tát-ca phái cùng với Phật giáo Trung Quốc, cùng Thế lực bảo hộ (hộ pháp) của các vua chúa thời ấy… Dòng truyền thừa ས་སྐྱ་(phiên âm La-tinh là Sakya/Shakya, phiên âm Hán Việt là Tát-ca/Thích-ca) do A-đề-sa khải thị 5 vị phật sống (ngũ trí như lai….) được truyền khai giáo hóa rộng rãi…. Và cũng từ đó, tên thật của Đức Phật Cồ-đàm theo các kinh sách cổ Ấn Độ để lại, dần biến thành tên của tộc hệ Thích-ca (trùng âm với dòng tu Tát-ca/Thích-ca của Tạng giáo…), từ đó phổ biến rộng rãi trong các kinh sách của Phật giáo Tây Tạng, Trung Quốc và tới Việt Nam cũng chính từ đó… 

         Học Phật chánh tông (nguyên thuỷ chính thống), tức là học cách nhận thức và tư duy đúng đắn (Chánh Tri Kiến và Tư Duy) thì mới thật sự giúp ngộ ra chân lý, từ đó giải thoát những hiểu biết sai trái (tà tri kiến)/giải thoát tri kiến, đến thật sự giải thoát Dukkha, hãy cùng nhau chọn lọc đối chiếu (trạch chi/quán sát) qua lại tính tương đồng giữa 3 bộ Kinh cổ: Trường bộ, Trung bộ và Pháp cú – lưu ý phải tìm đọc chánh kinh – nói về Đức Phật, về những thuyết giảng của Ngài, các đạo sư tán thán phạm hạnh/đức hạnh của Ngài, tôn vinh Ngài, chúng ta đều nghe thấy duy nhất mỗi tôn danh Sa-môn Cồ-đàm hay Đức Phật Cồ-đàm.

           Lược trích phẩm Chủng đức/Trường Bộ Kinh:

       “Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama (Cồ-đàm) là bậc tôn sư trong các hàng tôn sư của nhiều người…Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được bốn chúng kính trọng, tôn quý, chiêm ngưỡng, kính nể, trọng vọng… Này các Hiền giả, thật vậy, rất nhiều Thiên, Nhân tín ngưỡng Sa-môn Gotama 

           Lược trích phẩm Tạp Lục/Pháp Cú Kinh:

       296. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Phật-đà (Buddha/giác ngộ).

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác

Vô luận ngày đêm,

Thường niệm Phật-đà.”

      297. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởngĐạt-ma [-> Dhamma]

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường niệm Đạt-ma”

       298. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Tăng-già[-> Sangha].

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

 Vô luận ngày đêm,

Thường niệm Tăng-già.”

       299. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm) phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng sắc thân.

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường niệm sắc thân.”

       300. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường vui điều bất sát.

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường vui bất sát.”

       301. Đệ tử Kiều-đáp-ma (Gotama/Cồ-đàm), phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường ưa tu Thiền quán.

“Đệ tử Cồ-đàm,

Thường tự tỉnh giác,

Vô luận ngày đêm,

Thường ưa thiền quán.”

        Như vậy, hãy cùng nhau tỉnh giác mà đối chiếu chọn lọc(Trạch pháp giác chi) đồng cùng nhận thức và suy nhiệm lại cho đúng đắn(Chánh tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa giữa Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni PhậtNam mô Bổn sư Cồ-đàm Mâu-ni Phật thì đâu thật sự gọi là Chánh Ngữ và Chánh Niệm về vị Đạo Sư tôn kính của chúng ta? Mặt khác, có vì danh xưng dòng họ Thích…(đúng nghĩa là bộ tộc Thích-ca/Thích-già) phổ biến ờ Tây Tạng mà vội cả tin đây là phật giáo chính tông của Thầy Sĩ-đạt-ta(Tên) Cồ-đàm(Họ) hay không?… Ví như dân tộc Kinh có nhiều thầy Họ…Tên: Trần…, Nguyễn…,Đinh…thì có chắc rằng người, nhóm người, mọi người dân tộc Kinh đều là cháu con của Nguyễn Trãi? cháu con của Nguyễn Trãi có chắc rằng hiểu đúng, làm đúng lời Nguyễn Trãi dạy hay không?…  Nhớ lại thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, bộ tộc Thích-ca đã gây tạo hiềm khích với vua Tỳ-lưu-ly, gây nên thù hằn sâu nặng, khiến vua mang quân sang tiêu diệt sạch dòng tộc Thích-ca, lúc ấy đệ tử Phật là Mục-kiền-liên dùng thần thông can thiệp nhưng bất thành, Đức Phật bảo rằng thần thông không thắng được nhân quả… Và đồng cùng nhau đối chiếu xem lại 28 vị Tổ Ấn Độ cho đến 5 vị Tổ chánh tông tại Trung Quốc do Tổ Đạt-ma chọn Truyền Chuyển Y Bát(xem lại ý nghĩa này ở trang 76, 77), có thấy ai ghép tiền danh họ Thích…?

         Một truyền tích về họ Thích…(theo một số chi phái của phật giáo Trung Quốc) cho rằng vào khoảng năm 220 – 300 có một nhà sư hiệu là Trúc Đạo Thanh hay còn gọi là Đạo Hinh, đồng thời vị sư này còn có thêm tên gọi là Thích Đạo Thanh… Số khác cho rằng do Thích Đạo An(312 – 385) thiết định ra…. Chúng ta hãy cùng nhau chánh tri kiến và tư duy về lịch sử phật giáo Trung Quốc tại các thời điểm: *TK III (thời Tam Quốc):

– Đạo Sư Khương Tăng Hội/Đông Ngô(Tôn Quyền trị vì); – Đạo Sư Đàm-ma-ca-la/Bắc Ngụy(Tào Tháo trị vì) ; – Đạo Sư Châu Tử Hoàng/Tây Thục(Lưu Bị trị vì) là những danh sư phật giáo nổi tiếng (trong đó Đạo Sư Khương Tăng Hội được tôn là đệ nhất danh sư), những vị ấy không thấy mang họ Thích… -> Năm 310 Đạo Sư Phật-độ-trừng từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Đạo An(312-385), Huệ Viễn(344-416) -> Năm 384 Đạo Sư Cưu-ma-la-thập từ Ấn Độ sang truyền giáo cho Tăng Triệu(384–414) và Đạo Sinh(360–434). Chỉ mỗi sư Đạo An phác danh thêm họ Thích có thể hiểu theo nghĩa là ưa thích (gần như nghĩa ái), Đạo An (an bình trên đường đạo), Thích Đạo An tư nghĩa tự niệm tâm “ưa thích” thành đạt an bình trên đường đạo hay Thích Đạo Thanh tư nghĩa tự niệm tâm “ưa thích” thanh tịnh trên đường đạo…ái giác thay cho ái dục đời thường, tựa như giác nghĩa dụng giải Dục thần túc giác chi(khát khao mong muốn giác ngộ) thuộc chi phần Tứ thần túc/Tứ như ý túc trong 37 phẩm trợ đạo(Tam thập thất Bồ-đề phẩm), nhằm khéo léo cải thiện/hoàn thiện (thiện xảo) tự nhắc nhở tự tâm mình dần xoay thay chuyển/hoá giải dục mê chi trần cấu… Trong Kinh Pháp Cú 217 hỉ ái chánh hạnh/chánh kiến/chánh pháp thay cho hỉ ái thế tục, hay trong Pháp Cú 300/301 thiện xảo thay chuyển/hoá giải niềm vuiHỉ/ưa thíchÁi thế tục thành niềm vui bất sát/ưa thích thiền quánTư duy an lặng…Nghĩa là, Dụng pháp Chuyển pháp Thiện xảo Giải giới Pháp chính là vậy…

      Tóm lại, điều mà chúng ta – những người tu học giác ngộ chân chính, thật sự được gọi là đệ tử của Đạo sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm tôn kính –  cần phải hiểu đúng và tư duy đúng (Chánh Tri kiến và Tư duy) về ngữ nghĩa (Chánh Ngữ) “Thích-ca” cùng sự đồng hoá Tát-ca phái/Thích-già giáo của Mật giáo Tây Tạng vào phật giáo… Đó là sự thật.

Để cùng chánh tri kiến và tư duy, sau đây trích một só nội dung trong kinh Phạm Võng, phần nói về tiểu, trung, đại giới:

        * Nội dung 14: Tiêu khiển/giải trí bởi những trò chơi mưu sự, tranh đọat, hơn thiệt, cải/ngụy trang,… [-> Ngũ Dục cấu Sát/Tranh + Đa thân kiến]

              14.1. Tiêu khiển/giải trí bởi những trò chơi mưu sự, tranh đọat, hơn thiệt[-> kể cả trên ĐTDĐ lẫn Internet]

          Điều này quá ư là cơ bản, nhiễm 14.1 sao dứt được thọ tưởng? Thủ hữu chấp tướng hơn/thiệt/cao thấp sao thấy được lý bình đẳng? Sao trả được nợ thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng? -> đó chẳng khác nào hành vi tước đoạt đức tin và huỷ hoại chánh pháp, huỷ hoại (sát hại) hạt giống bồ-đềcủa tín chúng một cách gián tiếp và hàng loạt!…

              14.2. Cải/Ngụy trang/Bắt chước bộ điệu ,… [-> Đa thân kiến]

        Sở hữu tướng sắc thân hữu vi của thực tại vốn dĩ là bất tịnh/vô thường rồi, mặt khác lại thọ tưởng thêm vào những tác tướng hữu vi khác: của vị thầy, của người nổi tiếng, của sắc tượng tôn tạo chế tác…, của vị thọ ký tưởng tượng… -> tâm thức thủ hữu đa sắc tướng hữu vi -> duyên sanh đa nhân cách + tự lừa dối mình + dối gạt thiên hạ… Không lo tinh cần quán chiếu đặng dần giải hoá sắc thân hữu vi của thực tại, ngược lại thọ tưởng ái thủ hữu thêm đa sắc thân hữu vi bất tịnh(22)/vô thường -> Đa thân kiến (Dukkha-Dukha)… Nếu đã là người thầy dẫn đạo, thì sao mà trả được nợ thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng? -> đó chẳng khác nào hành vi tước đoạt đức tin và huỷ hoại chánh pháp, huỷ hoại (sát hại) hạt giống bồ-đề (chủng tử phật tánh/phật tử)của tín chúng một cách gián tiếp và hàng loạt!… Tội ấy nhẹ hay nặng?

         Nhắc lại lời dạy của Tổ Đạt-ma:

       “…Chỉ mê chấp cầu hình tướng bên ngoài, trong lòng buông thả những tham lam, ngu si, thường làm các nghiệp ác, thì ngoài chỉ nhọc nhằn thân xác vô ích, giả hiện vẻ uy nghi, không biết hổ thẹn với bậc thánh, dối gạt kẻ phàm tục, chẳng ra khỏi chốn luân hồi, làm sao lại thành công đức?)….. lấy những việc làm theo hình tướng mà cho là công đức, tốn kém biết bao nhiêu tiền của; đắp tượng, xây tháp uổng phí sức người; dốc lòng hết sức cũng chỉ tự làm tổn hại bản thân, mê hoặc người khác, chẳng biết là rất đáng hổ thẹn, biết bao giờ được giác ngộ?..”

     * Nội dung 15: Thọ lạc tiện nghi (giường, ghế cao/lớn/dài, nệm êm, chăn ấm cầu kỳ, sang trọng,…). 

[-> Thân kiến -> tham cấu Ngũ Dục, Lạc thọ trường sanh nạn]

15.1. Thọ lạc tiện nghi giường, ghế cao/lớn/dài…: Lúc ngủ/nghỉ trạng thái sinh học của trí não tư duy sẽ ở trong trạng thái bập bềnh ngưng lắng, nếu sắc thân thọ lạc xúc cảm giường/ghế cao/lớn/dài sẽ dễ khiến giặc thân lấn sâu vào tiềm thức làm khơi dậy sự thoả mãn, chấp cao/thấp, tăng/giảm… Mặt khác, người tu học giác ngộ chân chính luôn là người khất sĩ vô sản, nếu sử dụng giường/ghế chẳng khác nào hành vi sát sinh gián tiếp đốn phá cây trồngChúng sinh thấp sinh để lấy gỗ, gián tiếp tước đoạt công sức của người đục đẻo, cắt gọt thân cây làm giường/ghế… Đã là người thầy dẫn đạo thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng, không tinh cần liễu đạo giải thoát nợ trần, mà thêm thọ lạc giường/ghế cao/lớn/dài -> nợ chồng nợ, nghiệp chồng nghiệp…phạm tội sát sinh/tước đoạt gián tiếp là điều đương nhiên. Tội ấy nhẹ hay nặng?…

       Vị đạo sư giác ngộ luôn không ngồi ghế cao hơn mọi người(thủ chấp hảo xảo tướng thượng toạ vị tôn), ngoại trừ một vài trường hợp thuyết giảng cho số đông thính chúng, cần phải tạm sử dụng phương tiện hỗ trợ nhằm để giúp cho giọng nói được truyền xa hơn, bao quát hơn bằng cách đứng hoặc ngồi trên dốc đá cao, trên cành cây to, bởi vì thuở xưa không có điện cũng như máy khuếch âm như ngày nay.  

        15.2. Thọ lạc tiện nghi nệm êm, chăn ấm,..:Lúc ngủ/nghỉ trạng thái sinh học của trí não tư duy sẽ ở trong trạng thái bập bềnh ngưng lắng, nếu sắc thân thọ lạc xúc cảm giường/ghế cao/lớn/dài sẽ dễ khiến giặc thân lấn sâu vào tiềm thức làm khơi dậy sự thoả mãn, chấp cao/thấp, tăng/giảm…

Như đã tầm quan trọng của vải mặc vào thời xưa là quý giá biết ngần nào (công sức người lao động khổ nhọc trồng cây sợi, bông vải, thu gặt trái nhuộm, nghiền đá/cát/vỏ ốc/vỏ cây để trộn màu -> tách xe sợi -> cán dính -> phơi giặt -> nhuộm thô, tươi -> khâu kết ->…). Đã là người thầy dẫn đạo thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng, nếu thọ lạc tiện nghi nệm êm, chăn ấm,. -> tất sẽ phạm tội sát sinh/tước đoạt gián tiếp là điều đương nhiên. Tội ấy nhẹ hay nặng?…

* Nội dung 16: Dùng các đồ trang sức, mỹ phẩm, tôn tạo hình thức bề ngoài (thân, đầu, tay, chân), tẩm quất thân thể… [-> Thân kiến tập khổ đế -> tham cấu Ngũ Dục].

Đối chiếu lời dạy liễu nghĩa của Tổ Đạt-ma: “Tánh của Niết-bàn là không còn vọng tưởng”, “Tánh của nhập Niết-bàn là không còn chỗ phiền não”, “Tánh của Đắc Đạo là không còn mang thân đời sau” hàm ý thật sâu rộng, bởi vì phật giáo biến tướng biện thông vô số pháp môn, cho rằng quan điểm nhập niết-bàn/đắc đạo phải như thế này, thế nọ…hầu như là sự biến cách đặc dị biến hoá xoay vòng quanh quẩn thân tướng hữu vi nhập cảnh lạc/tịnh/hư không tưởng…bời do hiểu nhầm: “Tánh của phiền não Dukkha(25)/tr100 tựa như 84 vạn cửa pháp trói buộcBát vạn tứ thiên lao môn“. Và Tổ đã nhấn mạnh, trực chỉ rõ ràng nơi 6 cửa trọng yếu thật sự giúp giải toả mọi ràng buộc(Liễu Thật Lục Môn Yếu Chỉ). Đó chính là: *1Bát-nhã Tâm Kinh nhập, *2Phá tướng luận, *3Nhị chủng nhập, *4An Tâm Pháp Môn, *5Ngộ Tánh Luận *6Huyết mạch luận“

Sở hữu thân tướng vốn đã là bất tịnh, nay lại thọ dụng thêm pháp hữu vi để trang điểm, tô điểm, dưỡng dục, tăng tham dục mê ám tín chúng thì sao dứt được thọ tưởng thân kiến tập khổ đế cùng trùng duyên ngũ dục cấu? Sao thấu quán được chân nghĩa chư hành/chư pháp vốn là vô thường/vô ngã? Sao trả được nợ thọ hưởng cung dưỡng cưu mang của tín chúng? Đó chẳng khác nào hành vi tước đoạt đức tin và huỷ hoại chánh pháp, huỷ hoại (sát hại) hạt giống bồ-đề của tín chúng một cách gián tiếp và hàng loạt!… Tội ấy nhẹ hay nặng?

 Trong chi phần 16 có đề cập hành vi đội tóc giả không có nghĩa là các tất cả các đạo sư thời xưa cạo trọc đầu, đội tóc giả che đậy, cải trang… Đầu tóc búi tròn cao, vào thời ấy mang ý nghĩa thể hiện sự thông thái, tôn quý, bậc đại thượng trí, vị đạo hạnh bậc nhất,… Vì vậy cho nên một số vị đạo sư, các tu sĩ đương thời, các bậc học sĩ, các vị vương tôn, quan quyền,… đều có xu hướng đội tóc giả hoặc nón (mão/mũ) chóp/chỏm để thể hiện… Cũng có một số chi phái tôn giáo tư kiến bắt buộc tu sinh phải cạo sạch râu tóc lúc mới bắt đầu nhập môn tu học (cạo/nhổ sạch gốc rễ vô minhmàu đen của râu, tóc!) – thị tướng phân biệt tu/vô tu, trước/sau, cao/thấp – sau quá trình tu học được ấn chứng thọ ký thành đạo, sẽ được phép búi tóc cao và trở thành vị đạo sư tiếp kế… Riêng Đạo Sư Cồ-đàm thì bất chấp thân tướng, diện mạo, trang phục, đầu tóc phải như thế này thế nọ mới gọi là tu, là đạo hạnh, là trí tuệ, là vị Sa-môn hay Bà-la-môn hình thức… Ngài cho rằng tất cả những hình thức tôn tạo bề ngoài kia, thảy đều là ngũ uẩn trần xí, tứ tướng ngã/nhân/chúng sinh/thọ giả hư vọng, là pháp hữu vi vô thường/bất tịnh… Có gì đáng để sở hữu?

Một minh chứng lịch sử quý giá (H1) do đạo sư Phú-lâu-na – một trong thập đại đệ tử của Phật – vẽ lại chân dung Đức Phật Cồ-đàm lúc 41 tuổi, được phổ biến lần đầu tiên trong tác phẩm “Vrai Zen” xuất bản năm 1967 tại Pháp của thiền sư Taisen Deshimaru(1914-1982) có nói về hình ảnh thật của Đức Phật (H1) phiên bản từ nguồn tư liệu của bảo tàng Luân Đôn của nước Anh, khuôn mặt, y trang, đầu tóc của Ngài không khác gì người bình thường, những pháp tượng về sau hoạ thêm búi tóc cao trên đỉnh đầu nhằm ý nghĩa tôn vinh sự thành đạt giác ngộ của Đạo Sư Cồ-đàm không gì khác hơn ngoài con đường trí tuệ đạo hạnh bậc nhất…

Sau khi bức ảnh (H1) được công bố nảy sinh nhiều nghi vấn… Học Phật chánh tông là phải luôn tinh cần vận dụng trí tuệ đối chứng lọc lựa (trạch chi) truy tìm ra sự thật, không vội cả tin, nhắm mắt gật đầu, tín mê mù quáng… Hãy cùng chọn lọc đối chiếu truy chứng (trạch pháp giác chi) qua lại những kinh điển mang ngữ nghĩa tương đồng (chánh kinh), đồng kết hợp đối chiếu phân tích những di tích phật giáo cổ xưa nhất để giúp sáng tỏ sự thật… Trên tinh thần khoa học khách quan, chúng ta hãy cùng nhau giải toả những nghi vấn về H1 một cách thiết thực, trực chỉ vào đối tượng/đối tác (liễu vấn truy chứng) và cùng nhau dần hiểu đúng sự thật đồng cùng bảo vệ sự thật nhé…

      Nghi vấn 1:  Gương mặt giống như người Tàu, người Mông Cổ, Nepal hơn, không có vẻ là người Ấn Độ? 

      Giải nghi:  Chúng ta hãy cùng đối chứng lại lịch sử khảo cổ nói về quá trình bộ tộc SakyaThích-cadi cư từ Trung Á sang Ấn Độ, vào thời điểm TK VI TCN một số ít đến định cư ở LumbidiLâm-tỳ-nivàTây Tạng như phần lược sử đã dẫn ở trang 137. Như vậy, bộ tộc SakyaThích-caở thời điểm ấy kiểu hình/kiểu di truyền đã được thuần chủng Ấn Độ (Ấn hoá) hoàn toàn chưa? Dọc biên giới Ấn-Tạng thở ấy là vùng cao nguyên Hi-mã-lạp-sơn cách xa đồng bằng, cư dân sống quanh khu vực đó đa phần là du mục, tướng mạo dày dặn, mạnh mẽ, linh hoạt, mắt dài một mí, mày mỏng,…Mặt khác, xét về góc độ nhân chủng học/xã hội học: thời điểm TK VI TCN xã hội Ấn Độ là thời kỳ tiền đồ sắt, mật độ dân cư thưa thớt, giao thông trắc trở (biên địa), phân bố nhiều khu tự trị (quốc độ) rải rác khắp nơi (khoảng hơn vài chục quốc độ)tựa như Bắc/Trung/Nam của nước ta phân chủng Mường, Mán, Tày, Thái, Chàm, Dao, Hmông, Êđê, Girai, Mèo, Nùng, Hoa, Khmer,…thuở xưa vậy -> ngôn ngữ/văn hoá/tập tục/tôn giáo cũng đa dạng kéo theo… Bộ tộc Sakyadi cư đến sống rải rác ở vùng Lumbidi vào thời TK VI TCN chắc nào đã có thể thuần gien cùng với những cư dân ở vùng đồng bằng no ấm(mắt tròn hai mí, mày nở,…) không? Đồng cùng đối chiếu thêm với những di tích như (H2), (H3), (H4) – những cổ tượng TK II, II phật giáo (vùng Gandhāra cận giáp bắc tây bắc Ấn Độ) – đều có khuôn mặt hao giống, ta nhận thấy thế nào về khuôn mặt, đôi mắt, mái tóc ấy so với (H1)? Từ đó ta dễ dàng suy ra…   

        Nghi vấn 2:  Râu tóc xồm xoàm, không giống như các tỳ-khưu Phật giáo phải cạo râu tóc? 

         Giải nghi:  Hãy cùng đối chứng thêm những di tích cổ từ TK II về trước như một số hình ảnh mà TOTHA đã sưu tầm nêu ratr152, cho thấy rằng trong đoàn thể tu học giác ngộ (Tăng-già Mâu-ni) thời đó hầu như mọi người (những tỳ-kheo/giác giả) đều để nguyên râu tóc, các giác giả chân chínhtâm vô tướng tu không hề bận tâm với hình thức và dáng vẻ bề ngoài thể hiện tính phân biệt: tu/vô tu, hạnh/vô hạnh, hành/vô hành, giới/vô giới,…mất thời gian vô ích cho việc thường xuyên chỉnh trang đầu, tóc, râu, mặt, tay, chân, thân tướng, y trang thọ giả đúng như những gì trong nội dung 16 của Trung Giới đã nêu (xem lại trang 104) -> càng khiến thủ hữu tướng tu đặc dị, niệm niệm ngấm ngầm tăng khuếch tự ngã tướng …  -> sanh thân kiến tập đế khổ ngày thêm chồng chất mãi…niệm niệm tư lương/hệ phược thân/đầu tướng niệm, mâu thuẫn cơ bản pháp tu tứ niệm xứ mà đối tượng chánh niệm niệm xứ thân bất tịnh/thọ thị khổ/tâm vô thường/pháp vô ngã quán!… Do đó, nếu thủ chấp trước tướng hằn sâu lầm lẫn, giác kiến tư hành sai phạm cơ bản như vậy thì sao thoát khỏi Dukkha? Thuở xưa, có một số rất ít tu sinh từ nhiều chi phái của những tôn giáo khác nhau đến gia nhập cùng tăng-già mâu-ni để tu học giác ngộ, một số đã từng quen nếp sống ưa thích (Ái) búi cao tóc, hoặc cạo bỏ râu tóc hoặc bôi màu đầu/mặt/thân bởi tính đặc thù tôn giáo giáo điều trước tướng, niệm niệm thủ hữu trí tuệ thượng thừa  (búi tóc nhô cao), thường năng nhổ bỏ gốc rễ vô minh ví như màu đen kia của râu tóc hiện hữu (cạo trọc dầu)…hoặc không mặc y phục (loã thể) thủ hữu tướng thân trần tự tại…hoặc số khác khoát y trang màu sắc đặc dị thủ hữu tướng thượng nhân cao quý… Tập nhiễm tín ngưỡng giáo điều truyền thống cùng những định kiến cố hữu đã từng hằn sâu tận vào tâm khảm các tín đồ thời xưa, khiến họ chưa thể dễ dàng xả ly được ngay liền những tướng tu lập dị đã từng thọ nhiễm trước đó… Ví như trước thời nhà Thanh/Trung Quốc, truyền thống nam nhân đầu tóc để dài/y trang cổ rộng, sang thời nhà Thanh truyền thống nam nhân đầu cạo nhẵn chừa bím đuôi/y trang cổ hẹp, nếu tự trang đầu/thân ngược lại sẽ bị xem là Thân Minh/Phản Thanh bị chém đầu… Và tập quán/truyền thống kia đã từng hằn sâu vào ý thức hệ xã hội/cá nhân cộng sinh trong suốt quãng thời gian dài… Ngày nay, ra đường nếu thấy người như vậy thì mọi người sẽ gọi đó là dị nhân đúng không?… Thực tế hơn, ở Việt Nam ta vào khoảng thập niên 60 về trước bước ra đường thân mặc đồ ngắn/đầu đội nón bảo hiểm sẽ bị mọi người xem là người dị thường, ngược lại về sau này là bình thường… Và chính do những tập nhiễm tập tục thói quen tiếp dẫn (truyền thống) định hình tư tưởng hệ xã hội kích hoạt định kiến bảo thủ [Hiệu ứng quán tính sinh học sinh hình học tác ứng]…       

Chánh tri kiến về tướng đầu/thân trong định kiến xã hộitôn giáo, chính trị, văn hoá nói chung và định kiến tướng tu trong việc tu học giác ngộ nói riêng, đối với đối tượng phàm phuhạng người sống buông lung khó thể tự chủ thoát ra liền được, nhưng với nhóm người thiện trí/hiền trísống luôn tự chủ và tri kiến thì thấy rất rõ ràng và cũng rất dễ dàng giải thoát tư tưởng hệ cùng truyền thống/tập quán… Không giải thoát được tướng đầu/thân thời Minh sao thoát được sang thời Thanh, để được công nhận…gọi là người của nhà Thanh? Không giải thoát được tướng đầu/thân thời xưa sao thoát được sang thời nay gọi là người hiện đại? Tỉnh ngộ ra, tính đáo cuồng điên dại suốt bao niên đại cũng tại bởi lập dị tướng đầu/thân!.. Cũng vậy, nếu không tỉnh ngộ được tướng thân/đầu đều là pháp hữu vi bất tịnh vô thường, thì sao gọi là tu giác ngộ? Không giải thoát được tưởng tướng đầu/thân ô trọc, thì sao gọi là tu giải thoát? Sao gọi là tỳ-kheo/giác giả chân chính của Tăng-già Mâu-ni? Sao gọi là đệ tử của Đạo Sư Cồ-đàm? Đó là sự thật.

        Trở lại vấn đề còn thủ chấp thân/đầu tướng khởi tu tu đối với những chúng sinh chưa được khai giác tri kiến, bởi họ chưa vượt qua được ái lực truyền thống/tập quán tín ngưỡng đã tập nhiễm hằn sâu, nên rất khó thể thấu quán chánh niệm hành thành hạnh giới… Thuở ấy, cùng với lòng từ bi rộng mở vô biên của Đạo Sư Cồ-đàm đối với tăng-già mâu-ni. Ngài luôn cảm thông thấu hiểu, sẵn sàng dang rộng vòng tay vô ngại đại bi đón nhận mọi tín chúng khắp muôn nơi mà không hề phân biệt tôn giáo, giai cấp, kẻ trước/người sau… Ngài luôn tận tâm tận tụy giáo hoá chúng sinh trên tinh thần bình đẳng, bất phân biệt, không cấm đoán, áp đặt mọi người phải miễn cưỡng tuân thủ, không tôn tạo huyễn hoặc, giáo điều giới luật hình thức, mà không hiểu rõ bản chất cốt lõi (Tâm/Tánh) của giáo pháp… Trong những nội dung Tiểu/Trung/Đại Giới đã thể hiện quá ư là rõ ràng điều cơ bản này đúng không? Mặt khác,tính cốt lõi/bao hàm (Tâm/Tánh) của giáo pháp giác ngộ là tâm vô trụ tướngNgã/Nhân/Chúng sinh/Thọ giả, tuệ tri đến tột cùng(bát-nhã ba-la-mật-đa) thật tướng chư pháp là vô tướng, kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, Ly nhất thiết chư tướng tức danh Chư Phật,…thì đối với tướng mạo đầu/thân – báo nghiệp hiện mang này – thảy đều là pháp hữu vi thọ giả thì cớ sao phải trụ nhân: cạo/lột/quấn/đắp?.. 

 Tính trọng yếu của giáo pháp giác ngộ luôn là tự chủ tự giác tự tha tự tại thì cớ sao phải trụ/cột mãi tướng đầu/thân?… Nhắc lại, tài sản của người Khất Sĩ chân chính chỉ duy nhất 3 y phấn tảo và một bình bát bằng vỏ gáo dừa không gì khác hơn, thì dao cạo, dầu bôi láng mang theo người để xử lý râu, tóc bề ngoài kia phân biệt tu/vô tu, hạnh/vô hạnh, hành/vô hành…có đúng như thế không? Cũng vậy, răn đe người phạm tội bằng cách cạo trọc đầu bôi vôi, đột lỗ, ấn/khắc/xăm dấu,…có chắc rằng sẽ khiến cho tội phạm ấy không còn phạm tội được chăng? Đầu hói có nói lên người trí tuệ không? Đầu trọc có lọc được trọc ô không?… 

                “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”

              “Nhất thiết hữu vi pháp,

              Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán”

      Trong Kinh Pháp Cú 264 liễu nghĩa rất rõ ràng:

      “Người vọng ngữ và phá giới, dù cạo tóc, đắp y cũng chưa phải là Sa-môn, huống còn chất đầy  tham dục, làm sao thành Sa-môn?

                   Khôngphảiđầucạonhẵn,     Thân tham dục đắp y

                    Miệng nói lời thêu dệt                  Sao gọi là Sa-môn?   

        Về ngữ nghĩa thân tướng đắp y phấn-tảo/cà-sa chúng ta đã từng hiểu rất rõ ở những phần trước rồi, tương tự tướng đầu búi tóc hoặc cạo nhẵn (cạo trọc) hoặc đội mũ/mão hóa trang dị biệt…như đã vừa phân tích, người tu học giác ngộ luôn cần phải hiểu đúng sự thật “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Những gì còn có tướng thảy đều là vọng tưởng hư hoại).

    Lời dạy của Tổ Đạt-ma:

        “Nếu thấy được rằng tâm mình là Phật, chẳng cần phải cạo bỏ râu tóc, đắp y, dù là tu sĩ tại gia cũng vẫn là Phật. Nếu không thấy tánh, cạo bỏ râu tóc, đắp y vẫn là ngoại đạo” [Thiếu Thất Lục Môn Yếu Chỉ/Đệ lục môn Huyết mạch luận]

      Lời dạy của Tổ Huệ Năng:

        “Này các thiện tri thức, nếu như muốn tu hành, tại gia cũng được, không cần phải ở chùa. Nếu như ở chùa mà không tu, thì có khác chi những người ở Tây phương mà tâm địa độc ác…”  

           [Pháp Bảo Đàn Kinh, trích bản dịch cố HT.Thích Mãn Giác] 

Nghi vấn 3:  Đeo bông tai, một loại trang sức, trái nghịch với giới luật tỳ-khưu?

        Giải nghi:  Trong nội dung 16 chi phần Trung Giới đang phân tích là đối với các vị đạo sư, hàng thượng tôn đã thọ thí cung dưỡng của tín chúng vẫn còn dùng các đồ trang sức<->thọ dụng thêm tài vật (đồ trang sức). Trong giới luật tỳ-khưu là tam y nhất bình/bất nhiễm thế tục (xem lại trang 110). Nhìn lại H1 thấy tai đeo bông: Một là vẽ thêm (tượng ngữ hoa diệu âm thanh nhĩ); Hai là tài sản có trước (kỷ vật gia bảo), khác với tài sản thọ nhận về sau của tín chúng, tuy nhiên trạch cứu về trình độ mỹ thuật TK I TCN thì bông đeo tai kia là không thật. Có chăng đó chính là tượng ngữ nhặt cánh hoa rơi kết cùng cọng cỏ dại khô giữa rừng mê kia, đồng khế giải giáo nghĩa VănNghe họcTư duyTuChỉnh sửa  hay Nhĩ thức thọ pháp hoa/Giải nhĩ tặc phạm ác giới. Đồng thời, hoa tai tròn nhỏKý ngữ tinh hoa diệu âm miền tĩnh lặng mang ngữ nghĩa người trí giả trầm lặng/khiêm cung (Mâu-ni) là người luôn lắng nghe muôn loài kể cả cỏ cây hoa lá kia và luôn thấu hiểu…

Nghi vấn 4:  Trong kinh điển, mặc dù có đề cập đến Ngài Phú Lâu Na, nhưng không thấy nói Ngài có tài hội họa, vẽ chân dung?

      Giải nghi: Ngay cả nội dung Kinh Kim Cang, chúng ta đều biết có lúc ghi là này Xá-lợi-phấtTrí tuệ đệ nhất, có lúc ghi là này Tu-bồ-đềGiải Không đệ nhất. Tên nhân vật có quan trọng bằng ngữ nghĩa chánh pháp cần hiểu không? Ảnh do Phú-lâu-na hay do ai vẽ có quan trọng bằng sự thật về Đức Phật Cồ-đàm không? Hình ảnh kia do ai vẽ? Vẽ từ thời điểm nào? Vẽ như thế nào?  Vẽ bằng vật liệu gì? có quan trọng bằng sự thấy biết đúng, thấu hiểu đúng sự thật trong Phật ngôn: “Ta là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành bình đẳng như nhau và lý nghĩa bao hàm: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”cùng tuệ tridần được minh bạch không?… 

      Nghi vấn 5:Ấn Độ vào thời đức Phật chưa chế ra giấy để viết hay vẽ?

     Giải nghi:  Vật liệu dùng để ghi chép, vẽ hình thuở xưa sử dụng là da, lá bối (thiếp gỗ ghép), sau cùng là giấy. Điều mà chúng ta cần tri kiến rộng hơn, cũng có thể H1 là do người đời sau tiếp nối vẽ lại từ ảnh gốc đã kinh

trải qua bao nhiêu thế hệ lưu truyền, những vật chất tạo hình kia đều là hợp tướng hữu vi (vô ngã tướng) gồm: da/gỗ/giấy/mực/bút/người vẽ, tất cả đều tuân theo luật vô thường là hư hoại mục nát theo thời gian là hiển nhiên. Điều quý giá nhất mà chúng ta cần phải biết đó là sự thật luôn phải là sự thật và cùng nhau bảo vệ sự thật

Nghi vấn 6:Vào thời Đức Phật cho đến khoảng 500 năm sau khi Ngài nhập diệt, người Ấn Độ không có truyền thống vẽ hay tạc tượng các vị đạo sư. Để tưởng nhớ hay để tôn kính Ngài, họ chỉ nắn, tạc hoặc khắc vào đá hình bánh xe Pháp hoặc hình cây và lá bồ đề. Đến khi đoàn quân Hy Lạp xâm lăng và định cư tại miền Tây Ấn, nghệ thuật tạc hình của Hy Lạp mới được truyền vào Ấn Độ, và từ đó, có hình tượng đức Phật.

      Giải nghi:  Chỉ mỗi một di ảnh giúp nói lên sự thật giúp mọi người cùng tỉnh thức trên con đường tu học, cùng nhận ra sự thật thời mạt pháp rẫy đầy sắc tướng ngụy tôn ngụy tạo, mê hoặc biết bao chúng sinh vô tội… Với bậc đạo sư thuyết pháp đệ nhất Phú-lâu-na đồng thời đã đắc chứng A-la-hán dễ dàng nhìn ra kiếp nạn thời mạt pháp, cần phải giúp đời sau sáng tỏ vượt qua…cũng vậy sau khi Phật vừa nhập Niết-bàn giữa Phú-lâu-na và Ma-ha-ca-diếp từng bất đồng về việc linh động (khế cơ) trong cách tu khổ hạnh tương đối/tuyệt đối đối với những tu sinh mới nhập môn – giới hòa đồng tu – trong tăng-già mâu-ni thời ấy, thì việc khế truyền mỗi một di ảnh đồng giúp nói lên sự thật cũng là ý nghĩa vậy…

 Nghi vấn 7:  Tìm tòi trên mạng về các cổ vật Phật giáo trưng bày tại các viện bảo tàng Anh quốc, chưa bao giờ tìm thấy hình vẽ này, cũng chưa bao giờ tìm thấy một hình vẽ nào của đức Phật – trên giấy hay trên vải – trong thời kỳ cổ xưa đó tại Ấn Độ.

       Giải nghi:  Đối với mỗi một di ảnh quý hiếm và vô cùng nhạy cảm, dễ gây hiệu ứng phấn kích đám đông sùng tín – tâm trí lập trình bảo lưu hằng hữu – do bất đồng chánh kiến… Tương tự như những di tích khai quật về Chúa Giê-su cũng vậy, mà tính tồn tại và phát triển tôn giáo trong cộng đồng phật giáo/thiên chúa giáo, tâm trí bảo tồn (tâm bảo) hằng hữu (định kiến kiên cố)/tận tâm khảm luôn gắn liền với bao truyền thuyết tôn sùng tín/kính ngưỡng tính siêu nhiên/siêu nhân xuyên suốt hàng ngàn năm và ngày càng rộng lớn khắp thế giới. Vì vậy, bảo tàng Luân-đôn/Anh có nên duy trì trưng bày công khai những di ảnh vô cùng nhạy cảm dị ứng tín ngưỡng truyền thống như đã nêu hay không?

         Mặt khác, chúng ta có tìm thấy sự phản hồi nào của bảo tàng Luân-đôn/Anh đính chính rằng di ảnh (H1) trên là chưa hề tồn tại ở đó chăng?… 

          Điểm lại vào thời kỳ trước và sau khi Đức Phật ra đời (đản sinh), bộ tộc SākyaThích-ca định cư nhiều nhất ở vùng GandhāraCàn-đà-la, rải rác ở LumbiniLâm-tỳ-ni sát biên giới Ấn-Tạng (xem lại trang 137), Đạo Sư Cồ-đàm được sinh ra từ nơi đó, chân đất kinh hành (bộ hành niệm xứ/không dùng xe cộ), tự hành đối diện với mọi hiểm nguy, gian khó lặn lội xuyên núi rừng/vượt sông suối…trải qua suốt 49 năm khất thực/độ sanh không ngoài các nơi (quốc độ) gần vùng Bắc-Tây-Bắc Ấn Độ…luôn là người trí giả thầm lặng khiêm cung (mâu-ni) độ sanh vô ngã/tướng, tóc để dài không trau chuốt, y phấn-tảo/cà-sa, sắc diện bình thường bình dị bình đẳng như bao người bình thường (chúng sinh) khác, không cố tình tạo dáng vẻ bề ngoài dị biệt để người khác nhận ra Ngài (xem lại trang 74), Ngài thường nhắc nhở: Thấy Pháp[-> Chánh/Tánh giáo pháp/Chư Pháp] tức thấy Như Lai[-> Chư tướng Phi Tướng]… Mặt khác, ở ngoài vùng Phật thuyết pháp/vùng cách xa bắc-tây-bắc Ấn Độ thì tìm đâu ảnh vẽ thứ 2, ngoài mỗi một ảnh vẽ(khế giáo giải nghi hậu lai mạt) của ngài Phú-lâu-na thuở ấy? Tìm đâu những di tích của nhân vật lịch sử – Đạo Sư Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm – xuất xứ từ bắc-tây-bắc Ấn Độ ngoài vùng bắc-tây-bắc Ấn Độ với độ chuẩn xác hơn? Ví như tìm đâu di tích của nhân vật lịch sử Hai Bà Trưng xuất thân từ miền bắc Việt Nam với độ chuẩn xác hơn ngoài vùng Mê Linh thuộc bắc Việt Nam?…

        * Nội dung 17Nói những câu chuyện vô ích, tầm thường, chuyện xã hội, quân sự, chính trị, tâm linh,… [-> Quán/Quần tăng hội, tà kiến biện thông]

           Đây là hiệu ứng di căn từ hiệu ứng sinh học:  “Nghiện sắc tướng hành khẩu nghiệp” hay “Nhàn cư vi bất thiện khẩu”cũng vậy.Người say nghiện miệng nói thao thao bất tuyệt không ngừng nghỉ – im lặng đối với họ tựa như cực hình – họ có khả năng nói pháp như mưa tuôn bất luận đúng sai, hết đề tài này đến đề tài khác đan xen chằng chịt (thập cẩm tả pín lù) -> tự trói mình và tín chúng vào vòng kiềng văn từ/văn tự/lý loạn hảo xảo thuyết…khiến người nghe nghiện say cùng đùng ùn tôn vinh người say nghiện… Trong cơn say nghiệnchi giới 11 – 16 Trung Giới vị đạo sư hay Bà-la-môn kia nào biết mình đang say và luôn sai -> si mê huyễn thuyết, tà kiến biện thông lôi kéo đám đông “Tương hành khẩu nghiệp quần tăng hội”. Ví như người say nghiện rượu, thuốc lá, cà phê, ĐTDĐ, Internet vậy -> tâm ưa thích tụ hội đám đông thao thao khẩu khí diễn thuyết suốt ngày (ma khẩu hành), la cà quanh quẩn quán xá, ca tán chuyện thường tình hơn là những điều ngắn gọn thiết thực cùng giúp ích cho đời sống hằng ngày. Vị đạo sư say nghiện kia cũng vậy, ưa thích quanh quẩn pháp phàm phu (do tâm vọng loạn ngũ dục cấu), ưa thích tụ tập lễ hội tà kiến biện (ma nói) hơn là liễu thuyết giác tri kiến. Điều này, hệ lụy say nghiện dây chuyềnchi giới 11 – 16 Trung Giới+ di căn cộng hưởng đã giúp lý giải tại sao thời mạt pháp tà sư như cát sông Hằng, hí viện mọc lên như nấm rạ, tà thuyết lớn mạnh như mưa bảo tuôn cuốn, lộng lừng ngày càng lan khắp… Đó cũng là vấn nạn thế kỷ (Nhân Tai). 

          Nhắc lại lời dạy của Tổ Đạt Ma:

   “Trước sau như một[-> Như Lai], chư Phật luôn nói pháp truyền tâm[-> tâm không đuổi theo pháp, tâm thức sinh tạo tác], nhận ra được tính cốt lõi tổng quan này [-> Kiến Tánh] thì phàm phu ngu dốt cũng tu đặng thành Phật”.

          “Thuộc làu 12 bộ kinh, ngâm vịnh giảng thuyết như mưa tuôn mà không thấy tánh[-> cốt lõi bao hàm của giáo pháp giác ngộ/Pháp Tánh]  thảy đều là ma nói, thầy là vua ma, trò là dân ma”.

          Luôn ghi nhớ rằng: phật học(giáo pháp tu học giác ngộ)hayđạo phật(con đường giác ngộ) nguyên thuỷ (chính thống), tức điều mà Đức Phật đã từng dày công giúp cho chúng sinh tự mình tỉnh thức (tự giác) nhận ra (tự ngộ) và tự mình giải thoát (tự tha) mình khỏi kiếp nạn/khổ nạn, hoàn toàn không phải là sản phẩm của những học thuyết/học thuật tâm lý trấn an(văn chương chiêu cảm hỉ-lạc-an-bi/nghệ thuật xử lý tình huống/thêu dệt công đức…); hay triết lý cao siêu/trừu tượng/thần bí + huyễn thuyết tôn tạo tăng/tục, cao/thấp(thượng/hạ), áp đặt rập khuôn tuân thủ một cách mù quáng, thụ động bất suy xét đúng/sai, lai tạp theo tôn giáo mê tín gán ghép cùng với tha lực/thế lực siêu nhiên/thế lực thống trị… Đó chính là Dukkha tri kiến tướng luận (Tà kiến biện thông nạn)… 

          Mãi mê thao thao bất tuyệt tán chuyện thường tình, răn đe nhân quả, cúi đầu, khum mọp, cầu khẩn nương tựa…mà không chịu khó vận dụng trí tuệ để truy cứu tường tận giáo pháp giác ngộ (trạch pháp giác chi) để thông hiểu, đồng tư duy lại để có được nhận thức đúng đắn (chánh tri kiến và tư duy) về con đường mình đang đi (Đạo) song hành cùng hành vi (Nghiệp) mình đang tạo, ví như người thiểu trí, vô thức tự kỷ, mù đi trong rừng mê, vô định hướng đường về…thì thử hỏi cho đến bao giờ mới tỉnh nhận (giác ngộ) ra được sự thật?…

          Điều trớ trêu đáng nói thay đó là những người có trình độ học vấn cao, có trí tuệ, thiện căn tốt, nhưng bởi do lười biếng truy cứu giáo pháp giác ngộ (trạch pháp giác chi), ưa thích nương tựa, nhu nhược dựa dẫm, xu hướng theo đám đông mê tín dị đoan, biếng lười không chịu vận dụng trí tuệ sẵn có ra để mà hiểu đúng giáo pháp (chánh tri kiến & tư duy) -> dễ dàng bị những hạng người trình độ học vấn thấp, căn trí thấp hèn(không thấy tánh, nói pháp sai dối, luôn hô hào xưng tán hình tướng Phật/Bồ tát, thêu dệt nhân/quả/tội/phước), đồng bóng lòe lẹt, ngụy tôn danh vị…điều khiển, trói buộc, khuất phục ngoan ngoãn hạ mình, cúi đầu  cả tin theo những sáo từthuộc làu Hán, Phạn(cổ ngữ Ấn Độ) từ nói lại như con sáo, xáo từ(xáo trộn gán ghép những thuật ngữ giác ngộ vào những tán chuyện đời thường, phổ tác thơ/nhạc/sớ tụng bi/hài một cách tùy hứng), xảo ngữ hoang tưởng tôn tạo(tự xưng vị, công đức), bày biện hình thức tướng tượng gây mê hoặc đám đông tự nguyện kéo theo làm nô dịch và công cụ tuyên truyền đắc lực cho tà pháp(làm việc thất đức mê sảng tự kỷ thêu dệt cho đó là công đức!),… Điều này giống như chuyện người giỏi sáo tiếng Anh cứ mỗi lời thốt ra đều “đệm móm”những câu dẫn pha tạp hư cấu chuyện đời thường này, nọ(cóp nhặt/gán ghép kiến thức túi khôn nhân loại, bí quyết thành công, nghệ thuật xử lý tình huống…) + thanh âm kích hoạt(mỹ từ gieo cảm, nhấn giọng logic, xử lý kỹ thuật âm thanh) + bày biện hình thức cao sang quý phái, uy nghi, tôn tạo danh vị + chiêu thức quảng bá(đám đông tuyên truyền, truyền thông lăng xê, dựa dẫm quyền lực) -> dễ dàng thu hút đám đông cả tin mê tín theo rất nhiều!… Cần phải luôn cẩn trọng phân biệt đâu là Thuyết Pháp ≠  Giảng Pháp  ≠ Diễn Pháp đâu là Pháp thánh nhân ≠ Pháp phàm phu và đâu là Giác tri kiến khai ≠ Chúng sinh tri kiến loạn xa rời trọng tâm (Tánh) của vấn đề thiết thực là cần phải làm gì? Hiểu đúng điều gì? Phương pháp cần phải tự mình tự lực thực thi ra làm sao để thật sự chấm dứt Dukkha(sinh, lão, bệnh, tử, thất tình, lục dục,…) tức ta hoàn toàn tự tại trở về với tự tánh(vốn vô tướng). Và chúng ta – những người tu học chân chính – hãy luôn nhớ rằng hoàn toàn khác hẳn với liệu pháp kích hoạt xúc cảm tạm thời(Hỉ, An, Lạc, Bi) + chiêu thức gây mê tâm lý dài hạn như: trấn an, sáo điều nhân/quả mà chiêu an nghịch cảnh, khuyến khích hỉ ái tự nguyện nô dịch cho tướng tượng, ái lạc giả cảnh thế gian…nhất thời theo hình thức[hãy chớ bị nhầm lẫn giữa An Thân(đuổi theo pháp tướng) ≠An Tâm(Vô Tướng)]. Ấy thế mà “sáo và xáo ngữ” diễn cảm bi ai gây đánh thức lòng trắc ẩn, kích hoạt phản xạ xúc cảm của thính chúng khiến cho rơi lệ như mưa, hoặc tạp kỷ bi/hài tâm lý gieo cảm kích động lòng trắc ẩn/gây kích cười khoái lạc hư cảnh hữu vi, thêu dệt Hỉ/An/Lạc/Bi, răn dọa sáo điều nhân/quả/soi bói căn số vận mệnh…vẫn phát huy rộng rãi tác dụng làm mê hoặc rất nhiều người trầm trồ thán phục?!…và ngoan ngoãn lắng lặng nghe theo, học theo cách ấy ngày càng đông đảo, không hiểu rằng(bởi lười biếng đọc sách) đó chỉ là liệu pháp tâm lý học tạm thời của thế gian(kỹ năng sống, bí quyết/túi khôn/mẹo vặt của người đời)mà bất cứ diễn viên nghệ thuật, hát tuồng hay xướng ngôn viên, hùng biện viên chuyên nghiệp hay chuyên viên tâm lý hay thuật thôi miên nào cũng đều có khả năng làm được cả!… Qua nghệ thuật vận dụng kỹ năng âm thanh/văn từ trau chuốt/hình thức biểu cảm trương khuếch -> kích hoạt xúc cảm trắc ẩn đám đông dây chuyền, hoàn hảo đến độ khiến cho khán thính giả cảm kích tột độ khóc/cười/lụy/lạc khó thể kiềm chế… Năng lực diễn xuất thu hút mãnh liệt khiến cho các thính chúng thần tượng hóa nhân vật nhập vai đến độ nhầm tưởng họ(diễn viên, diễn giả) là những siêu nhân, thánh nhân mà họ vừa diễn xuất, vừa truyền đạt, vừa ca tụng!… -> kích hoạt hiệu ứng đám đông lây nhiễm ám thị mong muốn thiết tha được gần gũi thần tượng, lòng luôn cảm xúc trào dâng mỗi khi được nhìn thần tượng, nghe thần tượng nói/hát/ngâm/tán thán sắc tướng huyễn hoặc(hữu/vô hình) [Hội chứng SI nghiện huyễn thanh ảo thức] bất luận đúng sai -> thậm chí bị thần tượng chỉ trích, mắng chửi, sai khiển họ(những thính chúng si thanh/ái tướng) cũng cảm thấy hạnh phúc, tín mê cực độ có thể sẵn sàng hy sinh…để mong được nghe, được nô dịch (cung phụng) để có công đức!?… Nào có ngờ đâu chính diễn viên/diễn giả thần tượng giả tưởngdo khán/thính giả sinh ra kia mà ngay trong đời thường họ cũng không giải thoát được thất tình, lục dục do bị nhiễm tưởng thường xuyên(tư lương/hệ phược tướng niệm) từ bởi chính vai diễn của họ?!..đồng nghĩa với si thanh ảo thức/tự kỷ siêu nhân cùng cuốn theo đám đông “ngoan mê đồng si” không lối thoát… Mặt khác, giáo pháp giác ngộ bị suy hóa dần theo thời cuộc chẳng khác nào các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật hiện thời. Cũng vậy: văn hóa dung tục, nghệ thuật cuồng loạn, kích động, thêu dệt ủy mị bi/hài/khoái lạc tạp kỷ, tôn tạo cá nhân, triển thi những mẹo vặt cóp nhặt từ đời thường…lại có tác dụng lôi kéo đông đảo đám đông hưởng ứng một cách say mê đến độ cuồng tín -> si nghiện, đọa trụy sắc tướng -> vô thức tự kỷ -> lây nhiễm dây chuyền cùng khắp. Đó chính là một trong những ứng quả của thời mạt pháp khó thể mà nhận ra!..       

          Nhắc lại lời dạy của Tổ Đạt Ma:

       “Thời mạt pháp chúng sinh căn trí thấp hèn, thấy pháp hữu vipháp tướng thì mê muội đắm chấp, nói đến pháp vô vipháp tánh thì ngớ ngẩn xa rời”.

       Một lần nữa chúng ta hãy luôn nhớ rằng Phật học nguyên thủy là giáo pháp bình dị, thiết thực đại chúng giúp chúng sinh làm chủ hoàn toàn các xúc cảm hư ảo(bi/hỉ/lạc/an),tiêu trừ sạch vọng tưởng huyễn hoặc(kiên cố/hư minh/dung thông/u ẩn/điên đảo) để được thật sự tự do thoát khỏi Dukkha, đó là chân lý không gì khác hơn.Bởi thế cho nên với bối cảnh lịch sử cách đây hơn 2500 năm về trước – xin nhấn mạnh và xin nhắc lại –  trong điều kiện chữ viết (văn từ) chưa phổ cập, phương tiện thắp sáng thô sơ, mật độ cư dân thưa thớt, địa lý giao thông trắc trở (biên địa) -> thuật ngữ giao tiếp/học thuật chưa thống nhất, trình độ dân trí hạn chế… Do đó, nếu tôn tạo giáo pháp phức tạp, ngôn từ huyễn hoặc, siêu huyền như những quan điểm cực đoan về sau cố làm cho biến tướng dần tínhbình dị, thiết thực và đại chúng sẵn có, thì hãy thử hỏi làm sao trong vòng thời gian 49 năm thuyết pháp trong điều kiện lắm nhiều khắc nghiệt(biên địa, đa thổ ngữ, chưa phổ cập chữ viết, đa trình độ, đa thổ ngữ, bị các tôn giáo đương thời chống đối) mà Đức Phật đã dẫn dắt thành công hơn 2400 người chứng thành Thánh Quả A la hán trong đó bao gồm cả những hạng phàm phu thất học, giai cấp hạ tiện, những đối tượng đã từng phạm tội nặng trong xã hội(tướng cướp, kỹ nữ, giang hồ, gian thương)?.

   * Nội dung 18Bàn luận tranh chấp hơn thiệt (chuyện xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo,…) [-> Quán/Quần tăng hội, tà kiến biện thông]

          Say nghiệnchi giới 11-17/Trung Giới nếu không khắc phục được [Nhân]  sẽ tự nảy nở tà kiến/tà ngữ/tà khẩu [Quả] ngày càng phát triển hơn (tà tinh tấn) -> tâm ưa thích thể hiện thị uy (tà ngữ), ưa thích tranh luận hơn thiệt (tà khẩu), tự chế tác thêu dệt giáo pháp/giới luật linh tinh trong vòng quẩn của tà kiến  -> giặc khẩu ngày càng hoành hành lan khắp… Thắng luận sẽ được người người tung hô vây bám ngày càng nhiều, say nghiện tụ tập đám đông mê hoặc để được thể hiện ngày càng trương khuếch mạnh lên [Quán/Quần Tăng Hội], mặt khác đối với người thua cuộc/đám đông thua cuộc oán thán thù hằn cũng sẽ tăng dần không kém [Oán Tăng Hội]. Đó đều là Dukkha(25)/tr100.

        * Nội dung 19: Môi giới tin tức (chính trị/thời sự/xã hội/kinh tế). 

          [-> Quán/Quần tăng hội, tà kiến biện thông, Tà nghiệp<->Tà mạng]

        Say nghiệnchi giới 11–18/Trung Giới nếu không khắc phục được [Nhân] sẽ tự nảy nở thêm lắm bao sai trái, tầm thường, xấu ác (tà kiến/tà ngữ/tà khẩu/tà mạng/tà nghiệp) [Quả] ngày càng phát triển hơn (tà tinh tấn) -> nghiệp lực ngày càng chồng chất bởi vì dính mắc vào giới vua chúa, quan chức, chính trị.

Tu theo Phật, học cách thành Phật theo đúng chánh pháp nguyên thuỷ, đồng nghĩa là phải luôn chuyên cần vận dụng Trí tuệ để thấu quán đúng Sự thật thì mới thật sự giải mê khai ngộ…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s