Nhận diện những vướng mắc để vượt qua trên con đường tu học giác ngộ

Trong những bước đầu tìm hiểu về Phật học hầu như đa số mọi người đều bị vướng mắc rất nhiều về những thuật ngữ Hán Việt chuyên biệt sử dụng xen lẫn trong giáo pháp. Mà sự trói buộc (Nhược tùy ư văn giáo) áp đặt tuân thủ theo bởi do nhiều nguyên nhân:

1. Thời xưa kia chiếu chỉ (pháp lệnh) ban ra của vua chúa được quần thần, chúng dân xem đó như  là “ngôi báu thứ 2” thay mặt vua chiếu lệnh khiến mọi người tự động quỳ mọp để nghinh tiếp và răm rắp tuân thủ một cách bất tư nghì (Quân xử thần tử thần bất tử bất trung)… Đất nước Việt Nam ta ngàn năm nô lệ giặc Tàu nên di truyền tâm thức về sự qui phục tuân thủ rập khuôn theo Hán từ một cách vô thức, tự ám thị vướng kẹt vào văn từ huyễn hảo, dẫn tới hiểu sai giáo pháp là điều không thể tránh khỏi…;

2. Những thế hệ sau tự chế tác theo tư kiến tôn tạo (hệ quả từ việc tu sai đường lạc lối mà sanh ra tà kiến, hoặc rập khuôn theo các vị vua chúa xuất gia -> bị pháp hữu vi và hình sắc chế ngự) -> gây mê hoặc tín đồ, vọng tưởng hướng cầu tướng tượng cảnh sắc bên ngoài (nhập tướng ly tánh) mà đánh mất dần tự tánh (bản tâm) vốn tự tại,  thanh tịnh, hằng vĩ của chính mình -> dẫn đến tà kiến biện thông (ma nói) gây nên sự biến thể dị biệt theo thời gian;

3. Lỗi do người dịch thuật, người giảng lại nhiệt tâm hoặc mê muội, hiểu sai, ngụy tôn(danh vị, học thuật, quyền thế, hình thức đạo mạo), bị năng lượng đen điều khiển, đám đông kích hoạt(đồn thổi, xưng tán),… -> tự tạo nên vòng kim cô trói buộc mãi  lẫn nhau suốt bao đời kiếp. Do đó, muốn tháo gỡ dần hẵn các gút mắc như đã nêu – không cách nào khác – ngoài việc các bạn cần nên cố gắng đọc thật kỹ, hiểu thật rõ ràng nội dung căn bản được trình bày ở phần nầy sẽ giúp cho chúng ta tự hóa giải tốt những điều như sau:

1. Điều vướng mắc thứ nhất

Không bị trói buộc vào những lý luận huyễn hoặc [tín điều tôn giáo ngụy xưng, gán ghép lai tạp pháp thế gian(tâm lý học chiêu an, kỷ năng/bí quyết/túi khôn sống…)], bất bình đẳng trái ngược hoàn toàn với tinh thần Phật học nguyên thủy là trực diện vào lý nghĩa Khổ và Diệt Khổ, ngắn gọn dễ hiểu, bình đẳng, đại chúng, luôn khuyến khích mọi người tự tin, tự lực nơi chính mình và không bày biện hình thức tôn tạo, giáo điều tuân thủ rập khuôn, thề thốt hù dọa nhân/quả, tội/phước, chiêu an tâm lý (gán ghép/lai tạp tâm lý học/bí quyết thành công giúp gở rối tạm thời đối cảnh),  bày biện sắc cảnh hưởng thụ chiêu cảm [thanh nhàn (hư an), vui sướng(hư hỉ lạc), cởi tâm tùy tướng(hư bi, từ, xả)…] thu phục đám đông -> tâm đuổi theo pháp và  thức bị hình sắc chế ngự (lời dạy Tổ Đạt Ma).

Đây chính là điều  – nói đúng hơn là vấn nạn – cố hữu, thủ lậu [phô diễn/xưng tán lục tướng hư minh (an/lạc/hỉ/bi/từ/xả) –biến tướng thành ma sự quấy rối gây nên đột biến từ nơi ngũ ấm (ngũ thập ấm ma) làm che mờ chủng trí giác ngộ (kiến chư pháp vô tướng cùng chúng sanh đồng thể)… – trích lược Kinh thủ lăng nghiêm (bản Hán dịch của cố Hòa thượng Tuyên Hóa)] khuyến dụ gây mê hoặc rất nhiều người – bị trói buộc vào những lý luận huyễn ảo, tự áp đặt giáo điều tuân thủ, không đúng trọng tâm cốt lõi của giáo pháp (tánh của giáo pháp) là thẳng hướng trực chỉ vào điều duy nhất vào Khổ và Diệt Khổ do sự trói buộc của chư pháp mà ra, đồng thời cách duy nhất là tự chính mình tự tin tự lực tự giải thoát mình thật sự tự do -> tự tại -> tự giác giác tha không gì khác hơn (Như Lai chỉ là người chỉ đường, là thầy thuốc chữa phiền não. Ai tự thắp đuốc để đi thì người ấy thấy, ai uống đúng thuốc thì người ấy hết bệnh, ai ăn người ấy no, ai tu người ấy chứng… Giáo pháp Như Lai là chiếc bè, là bản đồ, là thuốc giải dukkha, là phương tiện. Ai tự chóng chèo, thắp đuốc, dò đường thì người ấy vượt qua, ai tu người ấy chứng…).

Điều trớ trêu đáng nói là những người có trình độ học vấn cao, có trí tuệ, thiện căn tốt nhưng bởi do lười biếng truy cứu giáo pháp giác ngộ (trạch pháp giác chi), ưa thích nương tựa, nhu nhược dựa dẫm, cuốn theo đám đông mê tín dị đoan mà không chịu tự mình vận dụng trí tuệ sẵn có ra để hiểu đúng giáo pháp (chánh tri kiến & tư duy), dẫn đến dễ dàng bị những hạng người trình độ học vấn thấp, căn trí thấp hèn (không thấy tánh, nói pháp sai dối, luôn hô hào xưng tán hình tướng Phật/Bồ tát, thêu dệt nhân/quả/tội/phước), đồng bóng lòe lẹt, ngụy tôn danh vị…điều khiển, trói buộc, làm cho khuất phục. Tự ngoan ngoãn hạ mình tin theo những sáo từ (thuộc làu Hán từ nói như con sáo), xáo từ (xáo trộn gán ghép những thuật ngữ giác ngộ vào những tán chuyện đời thường, phổ tác thơ/nhạc/sớ tụng bi/hài một cách tùy hứng), xảo ngữ hoang tưởng tôn tạo(tự xưng vị, công đức), bày biện hình thức tướng tượng gây mê hoặc đám đông. Tự nguyện kéo theo làm nô dịch và công cụ tuyên truyền đắc lực cho tà pháp, làm việc thất đức mà mê sảng tự kỷ cho đó là công đức!

Điều này giống như chuyện người giỏi sáo tiếng Anh cứ mỗi lời thốt ra đều “đệm móm” những câu dẫn pha tạp hư cấu chuyện đời thường (cóp nhặt/gán ghép kiến thức túi khôn nhân loại, bí quyết thành công, nghệ thuật xử lý tình huống…) + thanh âm kích hoạt (mỹ từ gieo cảm, nhấn giọng logic, xử lý kỹ thuật âm thanh) + bày biện hình thức cao sang quí phái, uy nghi, tôn tạo danh vị + chiêu trò quảng bá(đám đông tuyên truyền, truyền thông lăng xê, dựa dẫm quyền lực) -> dễ dàng thu hút đám đông cả tin mê tín theo rất nhiều!…

Do đó, chúng ta cần phải luôn cẩn trọng phân biệt đâu là pháp thánh nhân ≠ pháp phàm phu và đâu là giác tri kiến ≠ chúng sanh tri kiến.  Phải luôn không xa rời trọng tâm (Tánh) của vấn đề thiết thực là cần phải làm gì, Hiểu đúng điều gì; Phương pháp cần phải tự mình tự lực thực thi ra làm sao để thật sự chấm dứt Dukkha(sanh, lão, bệnh, tử, thất tình, lục dục,…) tức ta hoàn toàn tự tại trở về với tự tánh(vốn vô tướng).

Và chúng ta – những người tu học chân chính – hãy luôn nhớ rằng An Tâm của pháp Giác Ngộ hoàn toàn khác hẳn với liệu pháp kích hoạt xúc cảm tạm thời(Hỉ, An, Lạc, Bi) + chiêu thức gây mê tâm lý dài hạn như: trấn an, sáo điều nhân/quả để chiêu an nghịch cảnh, khuyến khích hỉ ái để chiêu dụ tự nguyện nô dịch cho tướng tượng, ái lạc giả cảnh thế gian…nhất thời theo hình thức. Hãy chớ bị nhầm lẫn giữa An Thân (đuổi theo Pháp Tướng≠ An Tâm(Vô Tướng).

 

Hãy cảnh tỉnh trước “sáo và xáo ngữ” diễn bi ai đánh thức lòng trắc ẩn, kích hoạt phản xạ xúc cảm của thính chúng khiến rơi lệ như mưa, tạp kỷ bi/hài tâm lý gây cười khoái lạc hư cảnh hữu vi, thiêu dệt Hỉ/An/Lạc/Bi, răn dọa sáo điều nhân/quả, soi bói căn số vận mệnh… những thứ đang tràn lan làm mê hoặc rất nhiều người trầm trồ thán phục?!…và ngoan ngoãn lắng lặng nghe theo, học theo cách ấy ngày càng đông đảo, không hiểu rằng, bởi do lười biếng đọc sách truy cứu, đó chỉ là liệu pháp tâm lý học tạm thời của thế gian (kỷ năng sống, bí quyết/túi khôn/mẹo vặt của người đời) mà bất cứ diễn viên nghệ thuật, hát tuồng hay xướng ngôn viên, hùng biện viên chuyên nghiệp hay chuyên viên tâm lý hay thuật thôi miên nào cũng đều có khả năng làm được cả. Qua nghệ thuật vận dụng kỹ năng âm thanh/văn từ trau chuốc/hình thức biểu cảm trương khuếch…gây kích hoạt xúc cảm trắc ẩn đám đông dây chuyền, hoàn hảo đến đổi khiến cho khán thính giả cảm kích tột độ khóc/cười/lụy/lạc khó thể kềm chế… Năng lực diễn xuất thu hút mãnh liệt khiến cho khán thính giả thần tượng hóa nhân vật nhập vai đến độ nhầm tưởng họ (diễn viên, diễn giả) là những siêu nhân, thánh nhân mà họ vừa diễn xuất, truyền đạt, ca tụng!… Rồi nó lại tiếp tục kích hoạt hiệu ứng đám đông lây nhiễm ám thị được gần gủi thần tượng, lòng luôn cảm xúc trào dâng mỗi khi được nhìn thần tượng, nghe thần tượng nói/hát/ngâm/tán thán sắc tướng huyễn hoặc (hữu/vô hình) [Hội chứng SI nghiện huyễn thanh ảo thức] bất luận đúng sai, thậm chí bị thần tượng chỉ trích, mắng chửi, sai khiển thì họ, những thính chúng si thanh/ái tướng, cũng cảm thấy hạnh phúc, tín mê vô thức đến nỗi có thể sẵn sàng hy sinh để được nô dịch… Nào có ngờ đâu chính “khán giả”, “diễn viên/diễn giả thần tượng” kia ngay trong đời thường họ cũng không giải thoát được thất tình, lục dục do bị nhiễm tưởng thường xuyên (tư lương/hệ phược tướng niệm) từ bởi chính vai diễn của họ?!..đồng nghĩa với si thanh ảo thức/tự kỷ siêu nhân cùng cuốn theo đám đông “ngoan mê đồng si” không lối thoát…

Mặt khác, giáo pháp giác ngộ bị suy hóa dần theo thời cuộc chẳng khác nào các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật hiện thời. Cũng vậy: văn hóa dung tục, nghệ thuật cuồng loạn, kích động, thêu dệt ủy mị bi/hài/khoái lạc tạp kỷ, tôn tạo cá nhân, triển thi những mẹo vặt cóp nhặt từ đời thường…lại có tác dụng lôi kéo đông đảo đám đông hưởng ứng một cách say mê đến độ cuồng tín -> si nghiện, đọa trụy sắc tướng -> vô thức tự kỷ -> lây nhiễm dây chuyền cùng khắp. Đó chính là một trong những ứng quả của thời mạt pháp khó thể mà nhận ra!.. Hãy cùng nhau đối chiếu lời Phật dạy:

        “Dựa theo hình sắc, âm thanh để thấy phật, đó là người hành sai đạo, không bao giờ thấy được Như Lai(không phải 32 tướng mạo hữu vi của thế gian)” – Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba la mật đa.

  “A-nan, lại hành giả kia, thọ ấm chưa tiêu dung làm sanh ra vọng tưởng hư minh về hỉ/an/lạc giả cảnh, tà kiến rằng mình chứng đắc vô ngại/tự tại giải thoát, do mê lầm ngã mạn như thế khiến cho người ấy liền đọa nhập vào địa ngục a tỳ vô gián… Khi thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tưởng ấm chưa tiêu dung làm sanh ra vọng tưởng dung thông, tính viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm thích dạo chơi, cho tư tưởng bay ra, tham cầu đi nhiều nơi. Người ấy thật không biết bị ma gá vào, còn tự nói rằng mình đã được vô thượng bồ-đề. Ma đến nơi người mong cầu lãng du kia, trải tòa ngồi thuyết pháp. Hình người giảng pháp thì không biến đổi, nhưng những người nghe pháp bỗng dưng thấy mình đang ngồi trên những tòa sen báu, toàn thân hóa thành khối vàng tía chói sáng. Mỗi người đang nghe pháp đều cảm thấy như vậy, cho rằng mình đạt được chuyện chưa từng có. Người ấy vốn không biết mình bị ma nhập, còn nói mình chứng vô thượng niết-bàn. Ma liền đến nơi người  mong cầu huyền ứng  kia, trải tòa thuyết pháp. Trong chốc lát, khiến cho thính chúng thấy mình hiện thân thành người già trăm ngàn tuổi. Họ sinh lòng ái nhiễm, không thể rời người ấy. Họ tự thân làm như nô bộc, đem cúng dường cho ma bốn thứ mà không hề mệt mỏi. Thính chúng ở dưới pháp tòa đều tin rằng người ấy là vị thầy trong đời trước của mình, phát khởi lòng riêng yêu mến pháp sư, dính chặt như keo sơn, như được điều chưa từng có. Ma thường nói đến thần thông và tự tại, hoặc khiến cho người khác thấy được cõi Phật. Cõi ấy không thật, chỉ  hiện ra do ma lực để huyễn hoặc người ta. Ma ưa nói đến cõi âm, luôn miệng xưng tán phật lớn/nhỏ/trước/sau/nam/nữ, phật, bồ tát ở nơi xa xôi, ma ưa thích nhàn rỗi, tìm cầu nhàn du đây đó, khuyến dụ tu luyện thần thông, nhập tướng cảnh nhàn hạ vui sướng, tán thán tham dục (Sắc/Danh/Tài/Thụy/Thực), ngay cả không từ bỏ những việc thô tục. Làm những hạnh bất tịnh, cho đó là truyền pháp. A-nan nên biết, trong thời mạt pháp mười thứ ma ấy, hoặc xuất gia tu tập theo giáo pháp của Như Lai, hoặc chúng gá vào thân người, hoặc tự biến thành nhiều dạng khác nhau. Chúng đều tự xưng đã thành bậc chánh biến tri. Các ông nên biết rõ tình trạng này, để khỏi rơi vào vòng luân hồi. Nếu các ông mê lầm không biết, sẽ khiến đọa vào địa ngục a tỳ, vô gián…” [Trích Kinh Thủ Lăng Nghiêm theo bản Hán dịch của cố Hòa thượng Tuyên Hóa, Việt dịch Thích Nhuận Châu – NXB Tôn giáo 2002].

2. Điều vướng mắc thứ hai

Đừng để bị bỏ cuộc lưng chừng bởi do chưa thông rõ những Hán từ đính kèm, đây là điều thật là đáng tiếc đối với những người có tinh thần khoa học đam mê nghiên cứu và thật đáng thương cho những người có đức tin trọn vẹn lại bị sa vào những ma thuyết huyễn nghĩa làm cho mê hoặc, đảo điên như đã nói trên… Một lần nữa chúng ta cần nên nhớ rằng Phật học nguyên thủy là giáo pháp bình dị, thiết thực và đại chúng giúp chúng sanh làm chủ hoàn toàn các xúc cảm hư ảo (bi/hỉ/lạc/an), tiêu trừ sạch vọng tưởng huyễn hoặc (kiên cố/hư minh/dung thông/u ẩn/điên đảo) để được thật sự tự do thoát khỏi Dukkha, đó là chân lý không gì khác hơn.  Bởi thế cho nên với bối cảnh lịch sử cách đây hơn 2500 năm về trước – xin nhấn mạnh và xin nhắc lại – trong điều kiện chữ viết (văn từ) chưa phổ cập, phương tiện thắp sáng thô sơ, mật độ cư dân thưa thớt, địa lý giao thông trắc trở (biên địa) -> thuật ngữ giao tiếp/học thuật chưa thống nhất, trình độ dân trí hạn chế… Do đó, nếu tôn tạo giáo pháp phức tạp, ngôn từ huyễn hoặc, siêu huyền như những quan điểm cực đoan về sau cố làm cho biến tướng dần tính bình dị, thiết thực và đại chúng sẵn có, thì hãy thử hỏi làm sao trong vòng thời gian 49 năm thuyết pháp trong điều kiện nhiều khắc nghiệt (biên địa, đa thổ ngữ, chưa phổ cập chữ viết, đa trình độ, bị Bà la môn và các tôn giáo đương thời chống đối) mà Đức Phật đã dẫn dắt thành công hơn 2400 người chứng thành Thánh Quả A la hán trong đó bao gồm cả những hạng phàm phu thất học, giai cấp hạ tiện, những đối tượng đã từng phạm tội nặng trong xã hội (tướng cướp, kỹ nữ, giang hồ, gian thương)?.

Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau thức tỉnh trở lại và sẵn sàng chịu khó dành ra một ít thời gian để cùng tham khảo một cách đúng đắn những thuật ngữ cơ sở vận dụng trong giáo pháp, thay cho việc hoang phí thời gian một cách vô ích là: công phu học theo sáo ngữ huyễn hoặc, tín điều rập khuôn, lặn lội xa xôi tìm tòi (tâm đuổi theo pháp) tới những nơi biện bày đủ thứ tướng tượng phù phiếm, tôn tạo hình thức mê tín (thức bị hình sắc trói cột), ngụy biện trơn tru cho những kiến thức thấy biết sai trái (tà kiến biện thông) và nô dịch cùng đám đông hoang tưởng suốt nhiều đời kếp… Một lần nữa khuyên bạn đọc không nên vội vàng lướt qua phần căn bản về việc hiểu đúng thuật ngữ Hán Việt và chớ vội tin bất cứ những gì mà mình chưa thông hiểu. Đây chính là điều đã từng trói buộc biết bao thế hệ mê vọng và cuồng tín [Y lý nhập chủng hạnh, bất tùy ư kinh giáo nghĩa là: “Đúng theo lý mà gieo mầm đức hạnh, không để bị trói buộc bởi câu chữ trong kinh giáo” – Tổ Đạt Ma]. Chúng ta hãy từ tốn nhẫn nại và cùng nhau chiêm nghiệm lại dần dần ý nghĩa thiết thực của giáo pháp là cùng đối chiếu(soi chiếu, chiếu kiến) dần bên trong nội thức của chính mình để giúp ta được ngày càng sáng tỏ mọi sự việc bên ngoài (ngoại pháp) mà gieo mầm thiện nghiệp sẽ giúp ta thăng tiến dần đức hạnh… Chính hành động đúng đắn(chánh nghiệp) thông qua sự suy nghiệm(chánh tri kiến, tư duyri kiến, tư duy) vấn đề cốt lõi cùng điều hợp đúng(chánh niệm) thân tâm và đồng thời cũng sẽ chính là năng lực xúc phát(tín lực giác chi) giúp ta khai mở dần năng lượng tâm thức – đối tượng thuộc ngoài phạm trù nhận thức của 5 giác quan hiện hữu của con người – song hành cùng sự vận dụng trí tuệ một cách triệt để(trạch pháp giác chi) tránh bị lôi cuốn theo hình thức cực đoan(Y Trí bất qui Thức) dần lan đến dị đoan cố hữu suốt ngàn năm không lối thoát… Chúng ta hãy luôn tỉnh táo để luôn sáng suốt nhận ra!.

Một vài ví dụ thực tế về việc bị nhiễm độc Si:

{[Chính trị gia (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)] + [Đám đông tuyên truyền (năng lượng hình thức -> kích hoạt pháp thức)]} -> tạo hiệu ứng gây Si binh sĩ, nhân dân. Thí dụ Adoft Hitler là chính trị gia thế kỷ 18 được mệnh danh là sát thủ số 1, dưới tay ông ta là những tướng lĩnh, những khoa học gia rất giỏi và luôn trung thành một cách vô thức (bị điều khiển), luôn sẵn sàng làm theo mệnh lệnh cho dù biết đó là điều sai trái, vô đạo đức…

{[Giáo chủ (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)] + [Đám đông tín đồ (năng lượng hình thức -> kích hoạt pháp thức)]} -> tạo hiệu ứng gây Si tín đồ.Có những giáo phái truyền bá mê tín dị đoan, tình dục, quyền lực, sai lệch đạo lý , dùng tà thuật thuyết giảng ngụy biện thông suốt (Tà Kiến Biện Thông) thu phục rất nhiều tín đồ kể cả những người có trình độ học vấn cao không phân biệt được đúng/sai (chánh/tà), do bị cuốn theo hình thức kích hoạt mê muội – thôi miên tập thể – vô thức đến nông nổi tự làm nô lệ cho giáo chủ, cảm tử vì đạo!… Vào năm 1995 Shoko Asaharalà giáo chủ phái Aum  Nhật Bản có khả năng thu phục đám đông (thôi miên tập thể) trong đó có những tầng lớp trí thức nô dịch tự nguyện,thậm chí bị lôi cuốn cảm tử,  tự tử theo tà giáo nầy…. Năm 1961 Jim Jones sinh trưởng ở Lynn, thuộc miền Nam bang Indiana, Mỹ bởi tài ăn nói lưu loát và tài hùng biện, nhiều người tin tưởng, sùng bái và gọi Jones là “nhà tiên tri”. Lòng tin của họ càng tăng thì ảo tưởng về quyền lực của Jones càng lớn. Y từng hùng hồn tuyên bố với các tín đồ rằng, y chính là vị cứu tinh của những người đang tuyệt vọng, Jones càng ngày càng có những hành động điên rồ khi nói với các tín đồ rằng, một xã hội thoải mái về tình dục sẽ càng giúp con người tới gần với Thượng đế, toàn bộ thành viên đi theo giáo phái nầy bị ép sex tập thể. Thậm chí, họ còn lạm dụng tình dục cả trẻ con, Jones đã gây dựng một giáo phái “biến thái” khiến 1.000 người cuồng tín cùng nhau tự sát!…

{[Chủ tịch Hội đồng quản trị (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)] + [Đám đông nhân sự tuyên truyền chiến lược (năng lượng hình thức -> kích hoạt pháp thức)]} -> tạo hiệu ứng  gây Si khách hàng. Thực tế cho thấy chiêu thức bán hàng đa cấp gây phá sản rất nhiều người nhẹ dạ, tạo hiệu ứng lan truyền nối đuôi (hiệu ứng đô mi nô) đầu cơ ảo….

{[Chủ tịch hiệp hội giải trí (năng lượng âm thanh kích hoạt thanh thức)} -> tạo hiệu ứng gây Si khán giả. Các cổ động viên cuồng si kích hoạt văn hóa đen (bạo lực, trụy lạc, sex), tôn thờ thần tượng, sống chết theo thần tượng…

Cách để hóa giải và ngăn chặn được bệnh Si -> đó là chúng ta cần phải thường xuyên tư duy một cách đúng đắn (Chánh Tư Duy) để có được nhận thức đúng đắn (Chánh Tri Kiến) tránh để bị cuốn theo tà kiến (kiến thức sai), tà pháp (giáo pháp sai), tà kiến biện thông (ngụy biện kiến thức sai). Tà kiến biện thông là thứ độc dược vô cùng nguy hiểm, người có năng lực hùng biện + đám đông kích hoạt sẽ tạo nên hiệu ứng gây mê cộng đồng rất mạnh. Cụ thể trong giới ca sĩ, kịch sĩ sau khi được lăng xê, đồn thổi (đám đông kích hoạt) nổi tiếng cho dù hát sai, diễn sai, phong cách nhố nhăng, phát biểu linh tinh…đám đông vẫn cho là hay, là đúng! -> sản sinh ra thế hệ âm nhạc, nghệ thuật biến tướng… Tương tự giới tu sĩ, giáo sĩ cũng vậy, sau khi được lăng xê, đồn thổi (đám đông kích hoạt) nổi tiếng cho dù nói sai, chế tác giáo pháp dị biệt, bày biện tướng tượng linh tinh… thậm tệ đến mức nói sai, hành sai những điều rất là cơ bản từ giáo pháp chánh tông – đối với người sáng suốt thì thấy quá rõ ràng – nhưng người  mê cùng ám thị đám đông vẫn cho là hay, là đúng! -> sản sinh ra thế hệ tôn giáo biến tướng… Và chúng ta chắc cũng từng xem qua báo chí viết về một số hiện tượng cuồng si thật là buồn cười ùn ùn kéo nhau lễ hội hối lộ, vái lạy trường kỳ những tướng tượng phong vị… Thậm chí vái lại ụ mối, ba ba, rắn, lươn chỉ vì tin đồn nhảm!…kéo nhau bỏ tiền ăn uống để được chửi, mắng (bún chửi, cháu mắng)!… Do đó, để tránh bị lôi cuốn vào những vòng xoáy suy hóa cực đoan nầy -> dị đoan thủ kiến – phân biệt đâu là Chánh/Tà – thì chúng ta hãy luôn luôn ghi nhớ rằng:

Chánh Pháp mang 3 đặc điểm: 1. Không tôn tạo hình thức; 2. Không giáo điều tuân thủ, khuyến khích mọi người tư duy đúng đắn; 3. Luôn mang đến lợi ích thiết thực (≠ lợi ích chiêu dụ tham gia) cho cộng đồng đó là trí sáng + tâm an + thể cân bằng hài hòa.

Tà Pháp mang “3 độc điểm”: 1. Luôn tôn tạo danh vị, khuyến khích phát triển hình thức, xưng tán tướng tượng; 2. Luôn giáo điều tuân thủ rập khuôn, lập lờ sự thật, hù dọa nhân quả; 3. Mang đến cho cộng đồng: sự mê mờ, quẫn trí, tâm vọng động, bất an (lo sợ phạm thượng, bị trừng phạt…), nô lệ hình tướng suốt nhiều đời kiếp…

Để giúp giải độc cho những người đã bị trúng độc Si, thì thuốc giải hữu hiệu và thiết thực nhất đó chính là hãy luôn kết nối đoàn thể Chân-Thiện-Mỹ để cùng nhau tu học đúng chánh pháp thì mới đủ công năng giúp mình cởi trói được vòng kiền vô hình nầy mà thôi, bởi vì trong lúc si mê ta sẽ nhìn trắng hóa ra đen và nhìn đen hóa trắng tựa như loạn màu vậy, nhìn thiện tri thức bị méo mó, nhìn tà tri thức tưởng là minh sư (trích Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Thiếu Thất Lục Môn) tự nguyện bị trói buộc, nô dịch “tưởng minh sư, tướng xưng vị” cho dù bị sai khiến, tước đoạt tự do tiến hóa, làm đối tượng diễn tuồng tà pháp cũng cười (Si cuồng cầu đạo)?!..tựa như vui vẻ chen nhau ăn bún chửi, cháu mắng, phở nhăn vậy (Si cuồng cầu thực). Si cuồng cầu đạo “giải thoát” đồng nghĩa với  việc đánh mất: tự do -> tự tin -> tự mình -> tự chủ -> tực lực -> tự tu -> tự tại -> tự tiến hóa => tự tánh thành tựu. Ngược lại tự nguyện trói buộc đến nỗi ngoan mê hạ mình bái lạy, cung thỉnh, hối lộ sắc tướng để được ân sủng, chiếu cố, thọ ký, ban bố hồng ân?!… thậm chí si cuồng vái lạy cả ụ đất, súc vật… Bởi thế xưa kia Đức Phật đã từng nhắc nhở các đồng tu về ý nghĩa đoàn thể [gọi chung là Tăng già (Sangha)] luôn cùng gắng kết, hòa hợp với nhau để đồng tiến hóa và đồng tỉnh nhận ra(Giác ngộ) tất cả chúng sanh và vạn pháp (Pháp) đều cùng chung Thể Tánh (Bản Tâm) bình đẳng bất phân biệt do nghiệp lực mà biến thành (PhápTướng), hãy cùng nhau quay trở về (Qui Y, Quần Triệu) với tự tánh (Pháp Tánh) vốn: thanh tịnh, tự đầy đủ, bất phân biệt, sanh muôn pháp (sanh/diệt, tăng giảm, tịnh/cấu). Giác ngộ ra chân lý này (kiến tánh) để hòa nhập cùng tự tánh(thành tựu chứng đắc) thì sẽ không còn Dukkha(sự trói buộc, giam hãm của vạn pháp làm sanh ra biết bao phiền não, khổ đau đeo bám nhiều đời kiếp). Đó là chân lý mà mọi người cần luôn hằng tâm ghi nhận (bảo lưu) tận tâm khảm để thành tựu giác ngộ (Phật). Tức là 3 điều luôn hằng tâm(Tam Bảođể làm hành trang quay về(Qui Y) với tự tánh, chứ không mang hình thức tôn tạo là ngôi báu (Phật báu, Pháp báu, Tăng báu) hay vật quí giá(Phật bửu, Pháp bửu, Tăng bửu) nầy nọ… -> khiến luôn mãi bị chấp thủ theo hành thức danh sắc -> tức là còn sở hữu tướng sanh/diệt…thì sao gọi là giải thoát?

Cùng một lần nữa điểm lại lời dạy của Đức Phật và Chư Tổ:

         [Này các Kàlàmas, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời đồn hay bởi truyền thống, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời người khác nói, chớ để bị dẫn dắt bởi những gì ghi lại trong Kinh điển, bởi lý luận hay suy diễn, bởi xét đoán bề ngoài, bởi tán thành một lý thuyết nào đó, bởi lòng tôn trọng “vị Sa môn này là Thầy ta”. Mà này các Kàlàmas, khi các vị tự mình biết rõ: “Những pháp này là bất thiện, những pháp này đáng bị khiển trách và bất lợi”. Lúc ấy các vị hãy từ bỏ chúng… “Và này các Kàlàmas, khi nào các vị tự mình biết rõ: “Những pháp này là thiện, những pháp này là không lỗi và có lợi”, lúc ấy các vị hãy tiếp nhận và an trú trong pháp đó”].

[“Trước, Sau như một, điều duy nhất mà Như Lai chỉ lý giải và nêu ra, đó chính là chân lý về “Khổ và sự giải thoát khỏi Khổ”. Cũng như nước đại dương chỉ có một vị là mặn, học thuyết của Như Lai chỉ có một vị là giải thoát“].

[“Hãy tự làm hòn đảo cho chính mình, hãy lấy chính mình làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác, hãy lấy Phật pháp làm hòn đảo, không ai khác có thể làm nơi nương tựa cho mình”].

[”Hỡi các Tỳ kheo, ngay cả quan niệm giải thoát, minh bạch và rõ ràng như thế, nhưng nếu các ông bám chặt vào đó, nếu các ông quý chuộng nó, nếu các ông cất giữ nó, nếu các ông ràng buộc vào với nó, thì vậy là các ông đã không hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, cốt dung để qua sông chứ không phải để mà ôm giữ lấy”].

[“Chẳng phải chúng sanh thỉnh Phật nói Pháp, mà vì Phật thương chúng sanh mà luôn làm bạn không thỉnh”].

[”Thời mạt pháp chúng sanh căn trí thấp hèn điên đảo, thấy pháp hữu vi thì đắm chắp tin mê, nói đến pháp vô vi thì ngớ ngẫn xa rời…không thấy Tánh mà cố nói mười hai bộ kinh, thảy đều là ma nói. Thầy là vua ma và Trò là dân ma… – Lược trích lời dạy của Tổ Bồ đề đạt ma trong kinh Thiếu thất lục môn].

[”Khi mê Phật độ Chúng Sanh, lúc ngộ ra chúng sanh độ Phật. Đó là bình đẳng là  bởi vì Phật cũng từ địa vị chúng sanh mà thành, cũng từng ngụ trong tam độc mà ra, cũng từng phiền não mà tu thành quả bồ đề, thánh nhân cũng từ phàm phu mê muội mà ngộ thành không gì khác hơn…Chớ mê muội tìm Phật ngoài Tâm…Thuộc làu, tụng khéo mười hai bộ kinh mà không thấy tánh quyết không thể nào thoát nghiệp, nói pháp như mưa tuôn thảy đều là ma nói, Thầy là vua ma, Trò là dân ma…  – Lược trích lời dạy của tô Bồ đề đạt ma trong kinh Thiếu thất lục môn].

Tóm lại: Hằng ngày chính trong đời sống hiện tại nầy, đó là mỗi chúng ta hãy luôn gắng giữ gìn sao cho hệ tâm thức lúc nào cũng được cân bằng, hài hòa và đồng hạn chế dần Tam độc(Tham–Sân-Si) gây ảnh hưởng đến nhân cách, đời sống, tư duy tiến hóa của ta và vạn vật xung quanh.

Hiểu đúng và thực hành đúng giáo pháp giác ngộ nguyên thủy (Phật học nguyên thủy), đó chính là con đường giải thoát thật sự.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s